D. PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC CHO HỌC SINH
IV. Rèn luyện phong cách làm việc khoa học
Phong cách làm việc khoa học thể hiện ở việc tổ chức hoạt động tƣ duy một cách khoa học. Do đó những phần trên dù không nói cụ thể nhƣng chính trong đó cũng đã thể hiện nội dung rèn luyện phẩm chất này.
Thí dụ ra những bài tập để rèn cho học sinh biết suy nghĩ có lôgic từ cụ thể → khái quát hoặc ngƣợc lại từ khái quát đến cụ thể, hoặc cụ thể → khái quát → cụ thể...
Những bài tập nhiều cách giải, nhiều đáp số... để rèn luyện tƣ duy chính xác, linh hoạt, sáng tạo, thì chính sự phân
tích sâu sắc, tỉ mỉ đầu bài để định hướng đúng đắn, đầy đủ cũng là biểu hiện của phong cách làm việc khoa học.
Luôn đề cao quá trình tự kiểm tra để phát hiện và bổ sung những nội dung, phương pháp mới trong bài làm cũng chính là một phong cách khoa học tƣ duy...
Nhƣ vậy, phong cách khoa học của học sinh có thể đƣợc rèn luyện thông qua việc chọn bài tập để các em làm, nhƣng còn có thể rèn luyện qua việc chữa bài cho các em nữa.
Khi chữa bài tập, đề cao khâu phân tích đầu bài, nhấn mạnh và làm thường xuyên khâu tóm tắt đầu bài, suy nghĩ khái quát để vạch phương hướng chung trước rồi sau đó mới đi vào cụ thể, dần dần sẽ hình thành ở học sinh nếp quen nhƣ vậy.
Đối với những bài toán phức tạp, nhiều hiện tượng thí nghiệm, nhiều phương trình phản ứng (thí dụ bài tập 35 trang 66) khi chữa cần cho các em thấy không nên sa vào cụ thể từng trường hợp mà nhìn toàn bài, viết đầy đủ các phương trình phản ứng đã, bức tranh toàn diện sẽ giúp ta nhìn ra vấn đề cần giải quyết ngắn gọn hơn.
Chữa bài cần phê phán cách giải dài dòng và khuyến khích những cách giải ngắn gọn, hay, thông minh; phân tích cái hay của phương pháp đó để học sinh có thể nhân nó cho những trường hợp khác. Nhưng cái chính là phải để các em thấy được cái hay của phương pháp.
Thí dụ: (Trong giáo trình luyện tập BT. H.H năm thứ 4 Khoa Hóa)
Cho 20 gam hỗn hợp hai kim loại Mg và Fe tác dụng với axit HCl dƣ thu đƣợc 1 gam khí H2. Hỏi rằng khi cô cạn dung dịch sau phản ứng ta thu đƣợc bao nhiêu gam muối?
Phân tích: Là một bài toán hỗn hợp nhƣng không hỏi thành phần mà lại hỏi khối lƣợng của cả hỗn hợp muối nên có thể không cần đi theo phương pháp thông thường vẫn làm là: tính thành phần của Mg, Fe rồi từ đó tính lƣợng của
từng muối và cuối cùng cộng lại.
Bài cho 1g H2 nhƣ thế chứng tỏ đã có 1ptg HCl phản ứng. Lƣợng Cl- còn lại trong dung dịch sẽ nằm ở dạng hợp chất với kim loại (muối).
Vậy mmuối = m kl + mCl- mmuối = 20 + 35,5 = 55,5 g
Tóm lại: cần phải rèn cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề cho học sinh nên phải dạy các em tiến trình giải một bài tập hóa học: bắt đầu từ đâu và diễn biến tiếp theo theo trình tự nhƣ thế nào.
Chẳng hạn có thể cho các em thấy tiến trình giải một bài tập nhận biết cần qua các bước:
1/ Phân tích các đặc tính để nhận biết.
2/ So sánh những tính chất giống nhau và khác nhau giữa các chất.
3/ Chọn cách làm đơn giản nhất
thông qua chữa cụ thể một hoặc một số bài tập cùng loại...)
Việc phân chia biện pháp rèn luyện từng yếu tố tạo nên năng lực giải bài tập hóa học, nhƣ trình bày trên đây là hết sức tương đối. Một bài tập không phải chỉ có tác dụng rèn luyện một mặt nào đó mà trái lại nó có tác dụng rất toàn diện, nếu nhƣ biết lựa chọn và khai thác tốt. Đồng thời ngay những yếu tố đó cũng không độc lập với nhau mà có tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hưởng đến quá trình phát triển và hoàn thiện của nhau, cho nên khi ta chú trọng rèn luyện thành phần này thì những thành phần khác cũng rất tự nhiên đƣợc rèn luyện.
Trên đây là một số suy nghĩ về biện pháp bồi dƣỡng năng lực giải bài tập cho học sinh phổ thông. Muốn quá trình này đạt kết quả cao, phải thực hiện thường xuyên trong tất cả các khâu của quá trình dạy học.
Thầy chỉ đạo, nhƣng bản thân học sinh phải có hứng thú và quyết tâm học tập, chủ động và tích cực trong việc tìm tòi vận dụng kiến thức, có ý thức tìm giải nhiều bài tập nhất là những bài tập khó.
Ngoài ra cũng cần phải đƣợc quan tâm đúng mức đến các điều kiện khác, phục vụ cho học tập và giảng dạy. Sự thiếu thốn các thiết bị đồ dùng, hóa chất để tiến hành thí nghiệm trên lớp, để tổ chức các buổi thực hành... gây trở ngại lớn trong việc tiếp thu kiến thức, hạn chế nhiều tới rèn luyện các kỹ năng cần thiết của bộ môn.