Chương II Hiện Trạng ODA Nhật tại một số nước châu á Thái Bình
I. ODA Nhật Bản tại Trung Quốc
2. Thực hiện ODA Nhật Bản tại Trung Quốc
Bảng 2.5: Thực hiện ODA Nhật Bản tại Trung Quốc trong những năm vừa qua:
Đơn vị: Triệu $US
Năm
Viện trợ Vốn vay
Tổng số GA Hợp Tác Kỹ
thuật Tổng số Tổng Ròng
1994 99,42 246,91 346,34 1.298,46 1.133,08 1.479,41 1995 83,12 304,75 387,87 1.216,08 992,28 1.380,15 1996 24,99 303,73 328,72 774,08 533,01 861,73 1997 15,42 251,77 267,19 556,75 309,66 576,86 1998 38,22 301,62 339,83 1.083,60 818,33 1.158,16 Tổng 756,13 2.596,12 3.352,26 11.312,30 9.900,48 13.252,72
GA= Grand Aid: Viện trợ không hoàn lại
Nguồn: Trang Web của Bộ Ngoại Giao Nhật Bản www.mofa.go.jp
Từ khoảng thời gian 1979 đến 1996, giải ngân các khoản vay ODA đạt đến tổng số là 1,85 nghìn tỉ yên, hợp tác kỹ thuật (nghiên cứu phát triển, hợp tác kỹ thuật kiểu dự án, cung cấp trang thiết bị, đào tạo đối tác Trung Quốc tại Nhật, cử chuyên gia, mời thanh niên…) đạt vượt mức 100 tỉ Yên. Viện trợ không hoàn lại đạt mức 100 tỉ yên.
Tổng số ODA Nhật Bản cho Trung Quốc mà chủ yếu dưới hình thức vốn vay ODA đã góp phần vào việc giảm bớt những khó khăn về cơ sở hạ tầng tại các vùng duyên hải của Trung Quốc và làm ổn định kinh tế vĩ mô của nước này.
Thêm vào đó, các khoản viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật đã góp phần vào các lĩnh vực y tế, sức khoẻ, bảo vệ môi trường và phát triển nguồn nhân lực.
ODA Nhật Bản do đó đã hỗ trợ Chính sách Mở cửa và Cải cách của Trung Quốc và có vai trò quan trọng vào sự phát triển vượt bậc của Trung Quốc.
2.1 Khoản vay đồng yên (ODA/Yen loans)
Nhật Bản bắt đầu cung cấp các khoản vay ODA cho Trung Quốc từ năm 1979 khi Trung Quốc quyết định tiến hành chính sách cải cách và mở cửa. Đến cuối tháng 3 năm 2001, 285 khoản vay ODA đã được giải ngân với tổng trị giá 2.711,2 triệu yên.
Trong Chiến lược Hợp Tác Kinh Tế Hải Ngoại Trung Hạn, Ngân Hàng Hợp Tác Nhật Bản (JBIC) tập trung hỗ trợ Trung Quốc trong các lĩnh vực sau: các vấn đề về môi trường, lương thực và giảm nghèo, giảm khoảng cách giữa các vùng chú trọng đến các vùng đất liền, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội nhằm đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Bảng 2.6 : Khoản vay ODA Cam kết cho Trung quốc theo lĩnh vực
(tính đến tháng 3 -2001) Tổng số khoản vay: 285
Trị giá: 2,711,162 triệu Yên
Các dự án đã thực hiện: 174 dự án
Số dự án hoàn thành năm 2000: 17 dự án Lĩnh vực Tổng số khoản
vay
Trị giá (triệu Yên)
Tỉ lệ
Thủy lợi và chống lũ 10 97.669 3,6%
Mỏ và Chế tạo 3 100.999 3,7%
Viễn Thông 17 123.412 4,6%
Khoản vay Hàng hoá 5 130.000 4,8%
Nông-Lâm-Ngư Nghiệp 25 144.928 5,3%
Dịch vụ xã hội 55 338.527 12,5%
Điện Khí 45 573.597 21,2%
Giao Thông Vận tải 125 1.202,030 44,3%
Nguồn: Trang Web của Bộ Ngoại Giao Nhật Bản www.mofa.go.jp
Trong lĩnh vực thúc đẩy cải cách và phát triển kinh tế, số viện trợ lớn được tập trung vào việc xây dựng các cơ sở hạ tầng cơ bản, như
đường sắt, đường tàu điện ngầm, đường xá, cầu cống, cảng, nhà máy điện, thông tin liên lạc…
Trong lĩnh vực thúc đẩy phát triển kinh tế cân bằng, nguồn vốn viện trợ tập trung vào việc xây dựng các xí nghiệp phân hoá học, các cơ sở chế biến ngũ cốc, các công trình thuỷ lợi và nông nghiệp.
Về mặt phát triển bền vững, từ năm 1990 đến năm 1997 có khoảng 16 dự án gìn giữ môi trường.
Các khoản vay ODA mới cam kết cho năm tài chính 2000 là các dự án nhằm bảo vệ môi trường và giảm nghèo. Đáng chú ý là 20 trong số 23 dự án vốn vay ODA trong khuôn khổ gói vay hàng năm là các dự án về môi trường.
2.2 Viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật
Hợp tác trong lĩnh vực này tập trung vào việc cải cách và phát triển kinh tế, phát huy sự phát triển kinh tế cân bằng.
Hợp tác trong về y tế sức khoẻ trong lĩnh vực phát triển kinh tế cân bằng, viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật được tập trung ở Bắc Kinh, Thượng Hải và các thành phố chính khác. Các hình thức hợp tác như cung cấp các thiết bị y tế hiện đại, chuyển giao công nghệ chuẩn đoán và chữa bệnh được thực hiện tại các cơ sở y tế trong các thành phố này với các kết quả tích cực. Trong những năm gần đây, số lượng trang thiết bị cung cấp cho các bệnh viện địa phương đã tăng lên. Đặc biệt trong lĩnh vực ngăn ngừa bệnh bại liệt, việc cung cấp các biện pháp y tế dự phòng đã được thực hiện. Dự án chống bại liệt của Trung Quốc được
dựa trên sự thoả thuận giữa hai chính phủ Nhật Bản và Trung Quốc đã bao gồm nhiều hoạt động và hình thức đầu tư. Các kết quả của dự án này đã tạo dựng nền móng vững chắc cho mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Dự án là một mô hình cho sự hợp tác giữa các dịch vụ y tế và sức khoẻ tại các khu vực nghèo.
Hợp tác trong lĩnh vực phát triển bền vững nhấn mạnh vào việc bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm, tái tạo rừng.
Bên cạnh đó, việc hợp tác cũng được mở rộng sang lĩnh vực chống ô nhiễm công nghệ công nghiệp, các biện pháp chống ô nhiễm nước và không khí, quản lý môi trường, trồng rừng, chống sa mạc hoá…