Trong bài viết xuất bản ngày 13 tháng 5 năm 2011, tác giả Trần Văn Thọ (ĐH Waseda, Nhật Bản) nhận định rằng: Nút thắt của nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô hiện
nay là chuyện nhập siêu, sau bốn tháng đầu năm đã lên đến gần 5 tỉ đô la, trong đó nhập siêu với Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn nhất. Hiện nay tỷ giá đang khuyến khích cho nhập siêu. Mặc dù nhân dân tệ đang tăng giá so với đô la Mỹ, nhà nhập khẩu vẫn hưởng lợi lớn khi hàng nhập về bán bằng tiền đồng sẽ có giá tăng (do lạm phát tiền đồng) nhưng tỷ giá lại được giữ "ổn định".
Tình hình này khuyến khích mọi người nhập khẩu thay vì sản xuất hàng để bán trong nước. Chuyện hàng nhập khẩu chèn lấn hàng sản xuất trong nước đang diễn ra ở khắp mọi ngành nghề chứ không chỉ là nhập máy móc, nguyên vật liệu. Các ý kiến sẽ tập trung làm rõ vấn đề nhập siêu và giải pháp để hạn chế. Ông cho rằng, đồng tiền Việt Nam phá giá liên tục nhưng nhập siêu vẫn lớn và tiếp tục tăng.Thông thường đồng tiền mất giá có tác dụng làm tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu nhưng ở Việt Nam thì không thấy hiệu quả đó, ngược lại nhập khẩu vẫn tăng. Theo ông, có hai nguyên nhân chính: một là sức cạnh tranh quá kém của hàng hóa sản xuất ở Việt Nam, hai là chính sách và quản lý nhập khẩu không hiệu quả. Bao trùm lên hai nguyên nhân này là sự thiếu vắng tinh thần trách nhiệm và năng lực quản lý của quan chức các cấp. Trong bài viết của mình ông đã đưa ra những phân tích cũng như các hướng giải quyết sau:
Đối với vấn đề năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất tại Việt Nam, do năng lực cạnh tranh của Việt Nam quá yếu trong cả hàng công nghiệp và nông phẩm chất lượng cao. Điều này phản ảnh trong cơ cấu xuất và nhập khẩu với việc xuất phần lớn sản phẩm nguyên liệu thô hoặc sơ chế và hàng công nghiệp chủ yếu dùng lao động giản đơn.
Mặt khác, nhập khẩu tăng nhanh gây ra nhập siêu lớn vì các ngành công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển, hàm lượng nhập khẩu của hàng sản xuất cho xuất khẩu và cho tiêu dùng trong nước rất lớn. Đầu tư của doanh nghiệp nhà nước hiệu quả thấp, hoạt động của doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn nên không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu. Đặc biệt áp lực của hàng công nghiệp nhập khẩu từ Trung Quốc rất
mạnh.Tại Đông Á, Trung Quốc triển khai ngoại thương hàng ngang với các nước khác (cùng xuất và nhập hàng công nghiệp) trong khi với Việt Nam thì cơ cấu hàng dọc vẫn chưa thấy có chiều hướng thay đổi.
Ông cho rằng trong lúc nhập siêu tăng đến mức làm bất ổn trầm trọng nền kinh tế mà nhập khẩu hàng tiêu dùng cao cấp vẫn tăng. Như báo chí phản ảnh, "lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu tăng đột biến trong bốn tháng đầu năm 2011", "các siêu thị tràn ngập sữa, thịt, rượu bia, thuốc lá có nguồn gốc nhập khẩu"... Hiện tượng này là do việc buông lỏng trong quản lý nhập khẩu. Ông kiến nghị: dù là thành viên của WTO, một nước đang trong tình trạng nhập siêu lớn, kinh tế đang gặp nguy cơ vẫn có thể áp dụng điều khoản tự vệ để hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng nhất định trong một thời hạn nhất định. Ngoài ra, Chính phủ có thể đánh thêm thuế tiêu thụ đặc biệt (cao đủ để hạn chế được nhập khẩu) đối với các mặt hàng tiêu thụ cao cấp nói trên.
Về trách nhiệm và năng lực của quan chức, ông đưa ra những hướng cải thiện như:
Đối với hàng nông phẩm, không đòi hỏi công nghệ cao cấp và vốn lớn nhưng vẫn có thể cạnh tranh được trên thị trường trong nước và nước ngoài nếu có sự quan tâm, yểm trợ của chính quyền địa phương. Muốn sản xuất lớn và cao cấp hóa nông phẩm và thực phẩm thì cần đến nỗ lực của chính quyền trung ương và địa phương hơn nữa.
Ngoài ra nhà nước cần đầu tư hạ tầng nông thôn (xây cơ sở tập trung nông phẩm, cơ sở bảo quản tồn kho, trung tâm giao dịch...), tổ chức kiểm tra nông dược tồn đọng trên sản phẩm thu hoạch, quản lý công nghệ và tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm, tổ chức hướng dẫn nông dân hoạt động sản xuất...
Thêm vào đó, Chính phủ còn có vai trò tìm kiếm thị trường và tổ chức cho nông dân tiếp cận thị trường, hướng dẫn nông dân lập các khế ước dài hạn với các công ty thương mại quốc tế.
Về công nghiệp, nếu lãnh đạo quan tâm thực sự đến nhập siêu và năng lực cạnh tranh của Việt Nam thì đã đưa ra các biện pháp thu hút các dự án FDI trực tiếp tăng năng lực cạnh tranh, và yểm trợ hoạt động của doanh nghiệp trong nước (nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu vốn đầu tư và ít thông tin về thị trường), và nhất là không ưu tiên vốn cho các tập đoàn đầu tư vào những lĩnh vực không hoặc ít liên quan đến hiệu quả tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Tuy nhiên trong bài viết của mình ông cũng tỏ thái độ không đồng tình khi hiện nay tin tức thời sự không cho thấy các nỗ lực nói trên, ngược lại thấy những tin như Bộ Tài chính vừa đưa ra dự thảo nâng mức giá trị xe con cho cấp bộ trưởng và thứ trưởng (theo báo Sài Gòn Tiếp Thị). Trong lúc dân chúng đang khốn khổ vì cơn bão giá này, tại sao Bộ Tài chính lại có dự thảo này? Thái độ này mâu thuẫn với quyết định hạn chế nhập khẩu hàng xa xỉ và do đó quyết định, chính sách đó sẽ không thể có hiệu lực.
Trong nhận định của Tác giả Trần Văn Thọ, ông đã nêu lên một vấn đề tồn đọng của nền kinh tế Việt Nam đó là yếu kém về trách nhiệm và năng lực của quan chức nhà nước.Chính vì đây là một tác giả của một tổ chức nước ngoài nên về phương diện nào đó sẽ có cái nhìn khách quan hơn. Bản thân nhóm nhận định rằng, việc giải quyết những tồn động trong cơ chế quản lý, năng lực hay trách nhiệm của quan chức đòi hỏi phải có một sự quyết tâm nỗ lực của cả hệ thống chính phủ, và để thực hiện được cần phải có một kế hoạch thực hiện dài hơi.
Góp phần đưa ra các giải pháp cho nhập siêu, hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI) cũng đã đề nghị một số các biện pháp như sau:
Bộ Tài chính nên làm công tác rà soát toàn diện và tăng tối đa các loại thuế với những mặt hàng nằm trong danh mục không khuyến khích nhập khẩu.
Ngoài thuế, cần bổ sung thêm các loại phí cao để ngăn chặn theo thông lệ quốc tế, chẳng hạn nghiên cứu ban hành loại phí mua xe mới ( theo giá trị của xe ô tô ). Dùng công cụ phí với mức từ (100% - 300%) giá trị xe có thể giảm 50% - 60% kim ngạch nhập khẩu xe ô tô.
Ngân hàng nhà nước nên xem xét việc ban hành ban hành giấy phép mua ngoại tệ hoặc hình thức tương tự ( Căn cứ theo Luật Ngân hàng ), xem xét xem có thể vận dụng được không trong 1 giai đoạn ngắn :
Doanh nghiệp nhập khẩu muốn nhập hàng tiêu dùng xa xỉ, hàng không thuộc Danh mục khuyến khích nhập khẩu cần phải xin giấy phép tại ngân hàng nhà nước.
Hoặc hàng tháng ngân hàng nhà nước xét duyệt kế hoạch bán ngoại tệ cho việc nhập khẩu những mặt hàng nhạy cảm từ hệ thống các ngân hàng thương mại.
Nếu tích cực vận dụng các biện pháp hành chính, hoặc các rào cản hợp pháp thì hàng năm có thể giảm nhập siêu với những nhóm hàng trên ở mức từ 3 tỷ - 5 tỷ USD.
Nhận định: VAFI đã khá lạc quan trong việc dự báo về tình hình nhập siêu trong 10 năm tới. Thực tế khi áp dụng các biện pháp mà hiệp hội này kiến nghị sẽ có thể gặp nhiều trở ngại. Bởi vì như chúng ta đã biết, công cụ thuế và công cụ phí là những công cụ có tác dụng hai mặt, nhất là khi hiện nay chúng ta tham gia vào những tổ chức kinh tế toàn cầu thì việc áp dụng các mức thuế và phí đều phải được thưc hiện theo lộ trình đã cam kết. Vì vậy không thể vì một lý do nào đó mà muốn tăng lên bao nhiêu là có thể tăng lên, làm như thế không những vi phạm quy tắc cuộc chơi mà có thể làm cho tình hình trong nước càng trở nên khó khăn khi gặp phải sự trả đũa.
“Thực tế để giải quyết triệt để vấn nạn nhập siêu hiện nay chúng ta không thể áp dụng từng biện pháp riêng lẻ mà cần có một hệ thống các giải pháp đồng bộ, hỗ trợ
nhau trong quá trình thực hiện.” Đó là quan điểm đã được đưa ra tại hội thảo khoa học “Thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát và hạn chế nhập siêu” do trường Đại học Kinh tế TPHCM tổ chức vừa qua. “Bài toán nhập siêu” được khẳng định là cần nhiều hơn một lời giải.Hội thảo này thực sự trở thành một diễn đàn đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý nhà nước và các nhà nghiên cứu.
Lời giải đầu tiên là phá giá đồng tiền, nhưng liệu nó có cải thiện tình trạng nhập siêu?
Trong hàng loạt các ý kiến trao đổi về tỷ giá, tham luận của PGS. TS. Nguyễn Trọng Hoài và ThS. Hồ Bá Tình chỉ ra rằng hiện nay, tỷ giá hối đoái thực đa phương (MRER) năm 2000 làm năm gốc của Việt Nam đang ở mức thấp. Nói cách khác, đồng VND đang được định giá cao khoảng 10% so với rổ tiền tệ của 12 đối tác thương mại lớn nhất, gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Đức, Pháp, Anh và Mỹ. Điều đó góp phần làm cho hàng hóa Việt Nam kém cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Xem xét tương quan giữa VND với từng đồng tiền nói trên, tỷ giá hối đoái thực song phương cho thấy tiền đồng đang được định giá thấp so với 5 đồng tiền của các nước Trung Quốc, Pháp, Đức, Thái Lan, Autralia và được định giá cao so với đồng tiền của 7 đối tác thương mại lớn còn lại. Kết quả nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại có quan hệ chặt chẽ với nhau. Điều này có nghĩa là việc phá giá đồng tiền sẽ đóng góp vào việc cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại.Nhận định này đã được nhiều nhà khoa học và cả đại diện Ngân hàng Nhà nước tán đồng.
Tuy nhiên, ThS Hồ Bá Tình cũng nhấn mạnh: “Mặc dù tỷ giá có quan hệ khá chặt chẽ với cán cân thương mại song cán cân thương mại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Do đó, không thể giải quyết vấn đề nhập siêu chỉ bằng cách phá giá đồng nội tệ. Thêm vào đó, quyết định phá giá còn cần phải cân nhắc đến sự ảnh
hưởng của nhiều yếu tố khác trong nền kinh tế.Để tỷ giá hỗ trợ tốt cho xuất khẩu, trong dài hạn cần lấy tỷ giá hối đoái thực như là tỷ giá tham chiếu trong điều hành tỷ giá trên thị trường”. Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ (NHNN) cũng bày tỏ sự tâm đắc với nhận định này.
Bên cạnh tỷ giá, một vấn đề thu hút đông đảo ý kiến thảo luận là hiện tượng nhập siêu từ Trung Quốc. GS. TS Võ Thanh Thu (ĐH Kinh tế TPHCM) nhận định rằng nếu giải quyết được vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc thì căn bản sẽ giải được bài toán nhập siêu hiện nay.
TS. Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ chính sách Ngân hàng Nhà nước thừa nhận, dù Trung Quốc hiện là “công xưởng của thế giới”, song việc chúng ta nhập siêu mạnh từ nước này, mà chủ yếu là hàng hóa chất lượng thấp, là tín hiệu không tích cực đối với nền sản xuất nước ta. Ông Bảo cũng nhấn mạnh rằng, trong 6 tháng đầu năm 2010, tỷ trọng nhập siêu từ Trung Quốc chiếm không chỉ 90% mà đã lên đến 99% lượng nhập siêu của toàn bộ nền kinh tế.
Dù vậy, các đại biểu nhận định để thu hẹp khoảng cách thâm hụt trong cán cân thương mại, việc thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước so với hàng hóa nhập khẩu mới là những giải pháp căn cơ và bài bản chứ không phải cố gắng giảm nhập siêu từ Trung Quốc bằng những biện pháp phi thị trường.
Theo GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân (ĐH Kinh tế TPHCM), việc xây dựng và tham gia vào các chuỗi cung ứng là một trong những giải pháp quan trọng giúp hoạt động xuất nhập khẩu nước ta phát triển bền vững, hiệu quả. Trung Quốc hiện là nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới, sẽ là điều không tưởng nếu Việt Nam ra sức “đối đầu” với làn sóng hàng hóa thâm nhập từ Trung Quốc. Giải pháp tối ưu hiện nay là hợp tác với Trung Quốc trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam có thể hợp tác, tham gia vào các chuỗi cung ứng này thông qua 2 cách:
nhận “outsource” một số công đoạn/sản phẩm từ các công ty Trung Quốc, hoặc tiếp nhận các doanh nghiệp đang dần thoái vốn khỏi Trung Quốc do sự gia tăng chi phí đầu vào, điển hình như các doanh nghiệp trong ngành dệt may.