Cơ sở lý luận của việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân

Một phần của tài liệu Giao trinh Luat dat dai.pdf (Trang 36 - 42)

Chương III: Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai

I. Cơ sở lý luận của việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân

Hiện nay Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai. Các nước khác trên thế giới thì ngoài một số nước vừa tồn tại song song sở hữu nhà n−ớc và sở hữu tập thể thì đa phần thuộc sở hữu t− nhân. Có thể nói rằng, sở hữu t− nhân chiếm −u thế tuyệt đối trong quan niệm về sở hữu và vì

vậy mà các quan hệ đất đai đ−ợc điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật dân sự. ở Việt Nam, quan hệ đất đai có những đặc thù nhất định, chính vì vậy nền tảng của nó là chế độ sở hữu đất đai cũng khác với nhiều nước trên thế giới. Vậy cơ sở lý luận nào và thực tiễn gì đã khiến chúng ta quy định cụ thể, rõ ràng trong khoản 1 Điều 5 Luật đất đai năm 2003 là: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Chúng ta sẽ nghiên cứu một số luận điểm khoa học của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và một số đặc tr−ng của chế độ chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam thời phong kiến nhằm rút ra các kết luận cụ thể cho vấn đề này.

1. Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính tất yếu khách quan của việc quốc hữu hoá đất đai.

Dưới xã hội tư bản, quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai được thừa nhận cả về mặt thực tế và pháp lý, tuy nhiên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chi phối người sử dụng đất khiến họ coi rằng: “Ruộng đất không có ý nghĩa khác hơn là một khoản thuế nhất định bằng tiền, mà độc quyền của hắn thu đ−ợc của nhà t− bản công nghiệp”(1).

Như vậy, tham gia vào quan hệ đất đai dưới chế độ tư bản bao gồm 3 thành phần cơ bản, đó là người sở hữu đất đai, người lĩnh canh hay nói một cách khác đi là nhà t− bản nông nghiệp và ng−ời công nhân làm thuê cho nhà t− bản. Các mối quan hệ này luôn luôn đối lập nhau nhưng lại gắn bó chặt chẽ với nhau, nếu người công nhân không đi làm thuê cho nhà t− bản thì họ sẽ không thể nào đầu t− t− bản vào mảnh đất đi thuê và nếu nhà t− bản không đi thuê đất thì quyền sở hữu của chủ đất

(1) C. Mác, t− bản, quyển I - tập 2, trang 196, NXB Sự thật. Hà Nội 1979.

chỉ còn là danh nghĩa, và nếu ng−ời công nhân không đi làm thuê thì cũng chẳng có việc gì làm và đời sống của họ sẽ bị đe doạ. Trong các mối quan hệ đó thì người chủ

đất là kẻ chiếm −u thế, vì họ cho rằng, kẻ đã chiếm đoạt một phần bề mặt trái đất

đương nhiên có quyền phát canh thu tô để thực hiện vai trò của chủ sở hữu. Và như

vậy, với việc phát canh thu tô người chủ sở hữu sẽ độc quyền thu một khoản tiền từ việc cho thuê ruộng đất để trên thực tế thực hiện quyền sở hữu. Số tiền đó đ−ợc gọi là địa tô. Cho nên “dưới hình thức địa tô, quyền sở hữu ruộng đất mới được thực hiện”(2).

Khoản địa tô này nhà t− bản đi thuê ruộng đất có trách nhiệm phải thanh toán cho ông chủ đất, nhưng nhà tư bản thì lấy tiền đâu để trả, nếu như không bắt người công nhân phải làm việc cật lực để tạo ra lợi nhuận siêu ngạch. Một điều rất dễ hiểu là nhà t− bản nông nghiệp không bao giờ chịu đầu t− mà lại không tạo ra lợi nhuận, lợi nhuận càng cao thì số tiền họ thu lại từ việc đi thuê đất càng lớn. Tuy nhiên ông chủ đất không phải là không hiểu điều đó mà luôn tìm mọi cách để khống chế nhà t−

bản, bắt buộc nhà t− bản phải nộp các khoản địa tô ngày một nặng nề hơn.

Vì biết rằng, mục đích cuối cùng của các nhà t− bản là lợi nhuận cho nên họ luôn tìm cách kéo dài thời hạn hợp đồng thuê đất để thực hiện việc đầu t− lâu dài, hoàn lại vốn và tiếp tục đầu t− t− bản. Trong quá trình đầu t−, họ phải xây dựng trang trại, nhà x−ởng, nhà ở và các công trình khác. Nh−ng hết thời hạn thuê, nhà t− bản phải trả lại cho ông chủ đất vốn đất đã thuê, toàn bộ công trình xây dựng trên

đất. Nh− vậy, ông chủ đất không cần phải làm gì cũng có vốn đất đã đ−ợc cải tạo, lại

đ−ợc thêm toàn bộ nhà cửa công x−ởng có thể sử dụng tốt vào việc đầu t− tiếp theo.

Vì thế, hợp đồng thuê đất tiếp theo có địa tô cao hơn so với hợp đồng trước đó, dù rằng vẫn là nhà t− bản đó, thuê đúng đất đó.

Cho nên, ý thức đó đ−ợc nh− vậy ông chủ đất tìm mọi cách rút ngắn thời hạn cho thuê đất, ng−ợc lại nhà t− bản tìm mọi cách kéo dài thời hạn thuê theo hợp đồng.

Mâu thuẫn này tạo ra, nếu thuê ngắn hạn thì nhà t− bản sợ đầu t− không có lãi cho nên tìm mọi cách bóc lột tối đa người công nhân làm thuê và làm kiệt quệ đất đai.

Còn nếu nh− thuê đ−ợc dài hơn thì nhà t− bản có cơ hội để đầu t− nh−ng ông chủ sẽ không cho phép làm điều đó nếu nh− không chấp nhận sự gia tăng của giá cả nông sản và các khoản địa tô ngày một nặng nề hơn.

Cuối cùng để được lợi nhuận tối đa cho nhà tư bản thì người công nhân làm thuê phải gánh chịu mọi hậu quả, dù hợp đồng thuê đất ngắn hạn hay dài hạn họ cũng bị bóc lột tối đa.

Từ đó có thể kết luận rằng, quyền t− hữu đất đai là cái cớ để sinh ra địa tô đất

đai, là cơ sở của việc bóc lột một cách tinh vi và thậm tệ của giai cấp thống trị đối với

(2) Sách đã dẫn trang 202.

giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì lẽ đó mà một câu hỏi đ−ợc đặt ra là làm sao để thủ tiêu đi cái quyền tư hữu đất đai vốn sinh ra sự bóc lột và làm sao để người công nhân thoát khỏi thân “trâu ngựa” đ−ợc giải phóng khỏi sự bóc lột?

ở một khía cạnh khác thì dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền tư hữu nói chung và t− hữu đất đai nói riêng là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Họ luôn luôn mưu toan che đậy bản chất của sự bóc lột bằng cách giải thích địa tô theo kiểu mới và họ cho rằng, đất đai là một hàng hoá cho nên “quyền sở hữu đất đai là chính

đáng, viện cớ rằng người mua đất đã trả một vật ngang giá để mua đất như khi mua bất cứ hàng hoá nào khácĐại bộ phận tài sản ruộng đất đã đ−ợc chuyển từ người nọ sang người kia bằng cách đó”(1).

Theo Mác thì tính giai cấp trong sở hữu ruộng đất dưới xã hội tư bản thể hiện rất rõ nét. Việc độc chiếm đất đai là tất yếu rồi, nhưng dưới chế độ tư bản thì việc quyết định các đạo luật là do nghị viện, nh−ng nghị viện ở đây đa số là chủ đất. Khi phân tích về vấn đề này Mác đã đ−a ra dẫn chứng lời phát biểu trắng trợn của Pan- mec-xtơn về quyền sở hữu ruộng đất “Hạ nghị viện là một nghị viện của các chủ

đất”(2).

Cho nên, bằng mọi lý lẽ, bằng mọi thủ đoạn giai cấp t− sản bảo vệ cho bằng

đ−ợc lợi ích giai cấp gắn liền với các quyền t− hữu. Mác tố cáo “ngay cả nhà n−ớc, lấy cớ là chỉ quan tâm đến của cải quốc gia và tài nguyên của nhà nước, trên thực tế họ tuyên bố rằng quyền lợi của giai cấp các nhà t− bản và việc làm giàu nói chung là mục đích cuối cùng của nhà nước”. Như vậy, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người duy nhất bênh vực cho quyền lợi của giai cấp công nhân là chính bản thân họ, họ không thể trông chờ vào nhà n−ớc, càng không thể trông chờ vào ông chủ của họ.

Từ thực tế Mác đã rút ra kết luận: “Sở hữu ruộng đất, nguồn gốc đầu tiên của mọi của cải, đã trở thành một vấn đề lớn, mà việc giải quyết sẽ quyết định tương lai của giai cấp công nhân”(3).

Trong cuộc đấu tranh giai cấp này, cái mà giai cấp công nhân đánh mất chính là sự xiềng xích, còn cái đ−ợc của họ là cả một t−ơng lai. Các nhà t− bản, các ông chủ trang trại không bao giờ từ bỏ quyền sở hữu đối với đất đai, càng không chối bỏ các khoản địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối nh−ng cũng phải nhận thức ra rằng, sự phát triển đi lên của xã hội đứng trước yêu cầu phải tập trung hoá đất đai, áp dụng các hình thức lao động tập thể và áp dụng các phát minh thành tựu khoa học, kỹ thuật cho quá trình canh tác. Chính vì thế “... Sẽ làm cho việc quốc hữu hoá ruộng

(1) Sách đã dẫn trang 202, 203.

(2) Sách đã dẫn trang 203.

(3) Các Mac, Ph Ăngghen tuyển tập, tập 4 trang 202, Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1983.

đất ngày càng trở thành một tất yếu xã hội và chống lại nó, mọi lý lẽ về quyền sở hữu

đều bất lực”(1).

Để làm rõ quan điểm này, Mác phân tích “Nếu nh− việc canh tác đại quy mô

(ngay cả cái ph−ơng thức t− bản chủ nghĩa ngày nay đang làm cho bản thân ng−ời sản xuất trở thành trâu ngựa) vẫn có lợi hơn nhiều so với kinh doanh nông nghiệp trên những mảnh đất nhỏ và phân tán, đang chứng minh một cách không thể bác bỏ

đ−ợc rằng, việc quốc hữu hoá đất đai đã trở thành một tất yếu xã hội”(2).

Nh− vậy, quốc hữu hoá đất đai có thể đặt ra trong xã hội t− bản, nh−ng thực hiện nh− thế nào thì lại là vấn đề khác. Vì thực chất của quốc hữu hoá là xoá bỏ sở hữu tư nhân, là thiết lập sở hữu nhà nước, là việc quyết định số phận của địa tô

tuyệt đối và việc chuyển địa tô chênh lệch vào tay nhà nước.

Trung thành với sự nghiệp của Mác, Lênin trong “Sơ thảo đề cương về vấn đề ruộng đất” người đã nêu các biện pháp nhằm thực hiện việc quốc hữu hoá đất đai.

Tuy nhiên, theo Lênin, nếu không giải quyết đ−ợc vấn đề chính quyền, không có sự thiết lập chuyên chính vô sản thì quốc hữu hoá đất đai chỉ là một hình thức t−

sản mà thôi. Trong điều kiện chuyên chính vô sản thì quốc hữu hoá đất đai tạo điều kiện xoá bỏ giai cấp t− sản, địa chủ và những tàn d− của chế độ phong kiến, giải phóng cho người nông dân khỏi sự gắn bó nô lệ vào mảnh đất, đó là điều kiện quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại.

Song thực tế lịch sử cũng nh− các luận điểm Mác và Lênin đã chỉ ra rằng, không phải sau khi thắng lợi của cách mạng vô sản thì quốc hữu hoá đất đai là một yêu cầu bắt buộc. Tuỳ vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi n−ớc mà có thể thực hiện ngay hoặc thực hiện từng bước một tiến trình quốc hữu hoá đất đai. ở nước Nga sở dĩ ngay sau cách mạng tháng Mười thì họ thực hiện ngay việc quốc hữu hoá đất đai, bởi lẽ một thời gian dài trong lịch sử, đa phần ng−ời nông dân Nga phụ thuộc vào các trang trại của các điền chủ, họ sống trong một chế độ nông nô khắc nghiệt. Vì vậy, đất đai luôn là −ớc mơ v−ơn tới làm chủ của họ.

ở Việt Nam, quốc hữu hóa đất đai là một qúa trình dần dần, từ trao quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai cho người nông dân, tiến tới tập thể hóa đất đai bằng phong trào hợp tác hóa và bằng Hiến pháp 1980 thực tế đất đai ở nước ta đã hoàn toàn xã hội hóa.

(1) Các Mac, Ph Ăngghen tuyển tập, tập 4 trang 203, Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1983.

(2) Sách đã dẫn trang 204.

2. Một số đặc điểm của việc chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam trong lịch sử.

So với hầu hết các nước ở Đông Nam á, Việt Nam là nước duy nhất cho đến tận

đầu thế kỷ 20 thì quá trình t− hữu hoá vẫn ch−a hoàn thành và ch−a bao giờ hoàn thành đối với đất đai. Nh−ng nếu quan niệm này đồng nhất với việc các học giả châu

Âu khi đến Việt Nam vẫn cho rằng: ở xứ sở này không có ruộng đất t− hữu. Đó là một sự hiểu lầm. Thực tế ở Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm phong kiến luôn tồn tại hai thiết chế về ruộng đất, đó là sở hữu ruộng công và sở hữu ruộng t−. Điều cần nói ở đây là sự bảo lưu, tồn tài một cách dai dẳng chế độ ruộng công bên cạnh sự phát triển của chế độ t− hữu, cả hai chế độ này không hề mai một đi trong suốt lịch sử hàng nghìn năm phong kiến. Và đó chính là đặc thù của chế độ ruộng đất ở Việt Nam.

2.1. Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của Nhà nước.

Đây là quyền lực rất đặc trưng của một nhà nước ở phương Đông, bên cạnh quyền quản lý lãnh thổ, còn có quyền lực tối cao đối với toàn bộ đất đai sinh lợi nh−

một ng−ời chủ sở hữu. Quyền sở hữu tối cao này không chỉ phản ánh ý nguyện muốn thâu tóm mọi nguồn lợi từ đất đai vào tay nhà nước của những người cầm quyền mà còn thể hiện vai trò kinh tế của nhà n−ớc. Với lý do, nhà n−ớc là ng−ời có công trong việc trợ giúp và tổ chức các cuộc khai phá ruộng đất, quản lý và tu bổ các công trình thuỷ lợi, trị thuỷ mà nhờ đó người nông dân mới có thể canh tác. Như thế trong mỗi thửa ruộng ng−ời nông dân trực tiếp canh tác hàm ý có công sức mà nhà n−ớc bỏ ra.

Quyền sở hữu tối cao của nhà nước về đất đai bắt đầu manh nha hình thành vào cuối thế kỷ XI d−ới triều Lý, khi nhà n−ớc bắt đầu tiến hành xây dựng các công trình đê điều với quy mô lớn. Quyền lực đó lớn dần lên cùng với uy tín của nhà nước do liên tục hai lần liền chống sự xâm l−ợc của nhà Tống thắng lợi và ba lần đại thắng quân xâm lược Mông Cổ. Vì lẽ đó mà tư tưởng công hữu, xem vua là đấng chúa đất tối cao tương đối thịnh hành và phổ biến trong nhân dân thời đó.

Có hai bộ phận cấu thành nên chế độ sở hữu nhà nước thời Lý, Trần là: bộ phận ruộng công do nhà n−ớc tập quyền trung −ơng trực tiếp quản lý và bộ phận ruộng

đất công làng xã.

Bộ phận ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý gồm ruộng Sơn lăng, ruộng tịch điền và ruộng đồn điền đ−ợc đặt ra để lấy thu hoạch nhằm chi phí cho việc thờ cúng các đời vua, chẩn cấp cho dân nghèo hoặc để tiếp khách và ban thưởng cho quan lại trong triều.

Bộ phận ruộng công làng xã thì mang nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể là ruộng tế tự, ruộng mộ của những người được thờ cúng ở làng, ruộng tế tự của các đời vua Đinh, Lý, Trần, Lê hoặc của một nhân vật nào đó cúng cho làng làm quỹ chung.

Nh− vậy, lần đầu tiên tính chất công cộng về sở hữu ruộng đất, công điền, công thổ

đ−ợc thiết lập. Loại hình sở hữu này thể hiện ở chỗ tập thể làng xã là ng−ời nắm quyền quản lý và phân phối đất đai theo tục lệ của làng mình.

Có thể coi thế kỷ thứ XV là thời điểm quyền sở hữu tối cao của nhà nước về đất

đai đ−ợc xác lập hoàn toàn. Đời nhà Lê, chính quyền trung −ơng đặt ra biện pháp

Thâm nhập sở hữu nhà n−ớc phong kiến với sở hữu làng xã” nhằm can thiệp vào quyền sở hữu ruộng đất làng xã. Cùng với chính sách “hạn danh điền” thời nhà Hồ và theo đó hạn chế việc biến ruộng công thành ruộng t−. Biện pháp trên đã trở thành một mốc giới, nhà nước chính thức tuyên bố bằng hàng loạt đạo dụ và theo luật quân điền thời Hồng Đức ban hành vào năm 1481 cấm việc biến ruộng công thành ruộng tư, và tuyên bố đất đai là tài sản của nhà nước.

Nh− vậy, từ chỗ đặt quan hệ ruộng đất trong cái “quyền sở hữu kép” ở thời Lý, Trần thì đến đời Lê nhà nước thống nhất quản lý và đặt quyền sở hữu làng xã trong sự chi phối mạnh mẽ của pháp luật nhà n−ớc trung −ơng.

2.2. Quyền sở hữu t− nhân đối với đất đai.

Dù rằng chế độ ruộng công được Nhà nước phong kiến bảo hộ và phát triển mạnh trong thời kỳ h−ng thịnh nhất của chế độ phong kiến, nh−ng không vì thế mà ruộng t− không có cơ may để tồn tại. Thực tế ngay thời Lý, Trần, loại hình sở hữu này đã được các chế định của nhà nước bảo đảm như việc ban hành quy định cụ thể về một văn khế bán ruộng công với giá 5 quan tiền một mẫu ruộng. Chính vì vậy, với sự suy yếu của nhà Lê dần dần ruộng đất t− hữu phát triển đến nỗi đã lấn át ruộng công. Sau này với nạn “cát cứ” “đàng trong” “đàng ngoài” và do chính sách khác nhau cho nên sở hữu t− nhân bắt đầu chiếm −u thế. Trong sở hữu t− nhân thì sở hữu lớn của địa chủ có nguy cơ tiêu diệt sở hữu nhỏ của người nông dân. Việc dân chúng lưu tán hồi thế kỷ XVII chính là hậu quả tất yếu của chính sách thời đó và các địa chủ hoành hành cướp phá ruộng đất của nông dân. Từ đó, kết cấu ruộng đất mà sở hữu nhà n−ớc trung −ơng và sở hữu làng xã là trung tâm b−ớc vào giai đoạn phân hoá và tan rã.

Sang thế kỷ XIX, bất chấp những nhân tố mới nảy sinh trong quan hệ ruộng

đất, triều đại nhà Nguyễn chủ trương tái lập chế độ sở hữu làng xã phong kiến. Khác với các triều đại trước, chủ trương của nhà Nguyễn rất cực đoan. Từ trung ương đến

địa phương, nhà Nguyễn hầu như sắp đặt sở hữu làng xã phong kiến làm cơ sở duy nhất cho hệ thống chính quyền.

Nh− vậy từ cơ sở lý luận và thực tế lịch sử có thể nhận xét rằng, những luận

điểm khoa học mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã dày công nghiên cứu bằng học thuyết quốc hữu hoá đất đai chính là cơ sở khoa học của việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân. Thêm vào đó nghiên cứu chế độ ruộng đất ở Việt Nam trong lịch sử cho chúng ta thấy tính chất đặc thù là sự tồn tại song song của chế độ ruộng công và chế độ ruộng t−. Hiện nay chúng ta kiên trì quan điểm xây dựng và hoàn

Một phần của tài liệu Giao trinh Luat dat dai.pdf (Trang 36 - 42)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(237 trang)