Chương IX: Thủ tục hành chính trong quản lý, sử dụng đất đai
VII. Các quy định về việc sử dụng đất có mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản 181 VIII. Các quy định về việc sử dụng đất trống, đồi núi trọc
1. Đối với mặt nước nội địa
Hiện nay diện tích mặt nước có khả năng sử dụng vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản ở n−ớc ta còn khá lớn, chiếm tới hàng triệu ha. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vẫn còn thấp, ch−a đáp ứng đ−ợc yêu cầu hiện nay là khai thác để nuôi tôm, cá và các loại gia cầm, thuỷ sản nhằm cung cấp thực phẩm t−ơi sống có chất l−ợng tốt cho nhân dân và xuất khẩu. Trên thực tế ở một số địa phương có nhiều hộ gia đình làm giàu bằng cách nhận thầu một diện tích khá lớn đất có mặt nước để nuôi tôm xuất khẩu, nuôi cá lồng, cá bè kết hợp chăn thả gia súc, gia cầm. Hiệu quả của việc nuôi tôm cá đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách đảm bảo lợi ích hợp pháp của người nuôi trồng thuỷ sản, đồng thời có biện pháp quy hoạch và phổ biến sâu rộng kiến thức khoa học kỹ thuật trong nuôi trồng thuỷ sản.
Điều 78 Luật đất đai quy định về đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản như sau:
- Ao, hồ, đầm không thể giao hết cho một hộ, một cá nhân thì giao cho nhiều hộ và cá nhân hoặc tổ chức kinh tế để sử dụng theo hình thức giao đất hoặc thuê đất thu tiền thuê hàng năm.
Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu
tiền thuê hàng năm hoặc một lần cho toàn bộ quá trình thuê. Riêng với tổ chức, cá
nhân n−ớc ngoài thực hiện dự án đầu t− nuôi trồng thuỷ sản đ−ợc Nhà n−ớc cho thuê đất thu tiền thuê hàng năm hoặc thu tiền thuê một lần cho toàn bộ thời gian thuê.
- Đối với ao, hồ, đầm thuộc nhiều xã thì Uỷ ban nhân dân huyện quy định về việc sử dụng, thuộc nhiều huyện thì Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định. Đối với hồ chứa nước thuộc địa bàn nhiều tỉnh thì do Chính phủ quy định.
- Việc sử dụng mặt n−ớc, ao, hồ, sông ngòi, kênh rạch phải tuân theo các quy
định về bảo vệ môi trường, không gây cản trở giao thông.
- Việc sử dụng mặt nước nội địa phải tuân theo các quy định về kỹ thuật của các ngành có liên quan.
2. Đối với mặt n−ớc ven biển
Diện tích này cần quy hoạch cụ thể và có các biện pháp bảo vệ, cải tạo đất. Hiện nay việc quai đê, lấn biển chống nước mặn tràn vào gây ngập mặn các diện tích đất nông nghiệp ở một số địa phương như Thái Bình, Sóc Trăng là rất cần thiết. Không có hệ thống đê biển thì hầu nh− việc sử dụng đất vào mục đích đất nông nghiệp rất khó được thực hiện. Một số địa phương do lợi ích của việc nuôi tôm mà chặt hạ khá
nhiều diện tích rừng ngập mặn và tự ý bê bờ, đắp đập gây cản trở cho việc bồi tụ một cách tự nhiên ở vùng ven biển. Ví dụ, ở Cà Mau thì việc bồi tụ ở vùng đất Ngọc Hiển cần phải đ−ợc quy hoạch để nuôi trồng thuỷ sản và phát triển hệ sinh thái.
Điều 79 Luật đất đai quy định:
- Việc sử dụng đất có mặt nước vùng ven biển phải theo đúng quy hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Bảo vệ đất, làm tăng sự bồi tụ ven biển.
- Bảo vệ hệ sinh thái và môi tr−ờng.
- Không gây cản trở cho việc bảo vệ an ninh quốc gia vùng ven biển.
Để thực hiện các quy định trên, Nhà nước xác lập hình thức thuê đất thu tiền thuê hàng năm đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong nước, thu tiền thuê hàng năm hoặc thu tiền thuê một lần đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân n−ớc ngoài đầu t− các dự án nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối.
3. Các quy định về bãi bồi ven sông và ven biển
Đối với đất bồi ven các sông thuộc địa phận xã nào thì xã đó quản lý và trình Uỷ ban nhân dân huyện quyết định kế hoạch sử dụng.
Đất bãi bồi ven biển do Chính phủ quy định, bao gồm:
- Chính phủ hoạch định diện tích bãi bồi mới để giao cho tỉnh sở tại quản lý, sử dông.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ vào phần diện tích đã đ−ợc Chính phủ hoạch
định để lập kế hoạch theo hai hình thức:
+ Nếu diện tích lớn thì chuyển dân trong tỉnh hoặc nơi khác đến đó để xây dựng vùng kinh tế mới.
+ Nếu diện tích ít thì giao cho Uỷ ban nhân dân huyện, xã sở tại để tổ chức
“dãn c−”
- Phải bảo vệ đất tạo điều kiện cho quá trình bồi tụ.
- Cải tạo nâng cao thuộc tính có ích của đất để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản.
VIII. Các quy định về việc sử dụng đất trống, đồi núi trọc
Hiện nay diện tích đất trống, đồi núi trọc của nước ta còn chiếm một diện tích khá lớn trong tổng quỹ đất. Cả nước có khoảng 13 triệu ha đất thuộc loại này chưa
đ−ợc quy hoạch cụ thể và sử dụng có hiệu quả, cho nên Nhà n−ớc phải có chính sách thật cởi mở với người sử dụng đất và tạo mọi điều kiện và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào các chương trình phủ xanh đất trồng, đồi núi trọc, thực hiện các dự án trồng rừng có sự tài trợ của các tổ chức quốc tế. Nh− vậy, mọi tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu, có khả năng cải tạo đất đai, đầu tư và khai thác vốn đất, có chính sách −u đãi với họ khi đ−a đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, trồng rừng.
Theo chúng tôi, đối với người nhận đất trống, đồi núi trọc thì Nhà nước ngoài việc bảo hộ mọi quyền và lợi ích hợp pháp còn cần thiết phải có sự −u đãi hơn trong việc tính thuế, ví dụ đối với đất khai hoang lần đầu thì trong năm năm đầu có thể miễn thuế hoàn toàn, đất phục hoá miễn thuế trong 3 năm hoặc miễn thuế khi thiên tai, mất mùa. Đặc thù của việc sử dụng đất trống và đồi núi trọc thường là lần đầu
đ−ợc khai phá, điều kiện tự nhiên th−ờng bất lợi, các điều kiện xã hội, y tế giáo dục thiếu thốn. Cho nên chính sách đất đai phải gắn liền chính sách xã hội. Hơn nữa việc khai phá và sử dụng với diện tích lớn, cho nên Nhà n−ớc cho phép thuê nhân công, tạo điều kiện cho họ đ−ợc vay vốn để phát triển sản xuất.
Các thủ tục, trình tự về giao loại đất này phải đơn giản, nhanh chóng nhằm khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân nhận nhiều diện tích và sử dụng có hiệu quả, khuyến khích họ làm giàu trên đất trống, đồi núi trọc và chỉ thu hồi lại đất này khi thật cần thiết cũng như phải bồi hoàn thoả đáng công sức người lao động bỏ ra.
Ch−ơng xi
Chế độ pháp lí nhóm đất phi nông nghiệp