Bài học kinh nghiệm vân dụng đối với Việt Nam

Một phần của tài liệu Giải pháp tín dụng đối với phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Thái Nguyên.DOC (Trang 22 - 27)

Với những kinh nghiệm của các nớc đi trớc nh ấn độ ,Nhật Bản, Đài Loan trong việc hỗ trợ các DNVVN phát triển là những bài học quý giá cho Việt Nam học tập. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và vận dụng vào điều kiện thực tế của đất nớc, có thể rút ra đợc một số bài học sau:

Một là: Về vốn

Đảng và Nhà nớc cần tạo các điều kiện thuận lợi về vốn cho các DNVVN trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nên thành lập các tổ chức hỗ trợ về vốn chuyên dành cho các DNVVN. Tổ chức này sẽ giúp các doanh nghiêp tiếp cận đợc nguồn vốn của nhiều tổ chức tài chính khác nhau trong xã hội, nhất là nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thông qua các biện pháp:

bảo lãnh, đồng tài trợ, hỗ trợ lãi suất u đãi...

Các NHTM cần xây dựng và hoàn thiện chính sách vay vốn đối với các DNVVN, nên giúp các DNVVN xây dựng các phơng án sản xuất kinh doanh khả thi và t vấn quản lý tài chính kế toán cho các DNVVN. Điều này ở Việt Nam cha làm đợc.

Hai là: Môi trờng cạnh tranh

Nhà Nớc và các cơ quan có thẩm quyền phải xây dựng môi trờng kinh doanh lành mạnh cho các DNVVN nh: hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đa ra các hệ thống chính sách pháp luật phù hợp... Nền kinh tế thị trờng luôn biến

đổi, vì vậy việc xây dựng hành lang pháp lý là cơ sở quan trọng để các DNVVN hoạt động kinh doanh đúng luật và phát huy hết tiềm năng thực sự của mình.

Để nâng cao khả năng cạnh tranh cho DNVVN ngoài yếu tố thuộc về vốn thì Chính phủ nên thành lập các tổ chức chuyên trách quản lý DNVVN.

Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp này liên kết với nhau lại để tăng sức cạnh tranh và tính ổn định trong kinh doanh.

Ba là: Tổ chức quản lý.

Cơ cấu tổ chức của các DNVVN nói chung thuờng khá chặt chẽ vì số lợng ngời lao động không nhiều hoặc có các mối rằng buộc khác nhau nh quan hệ gia đình bạn bè... Thế nhng để thích nghi với nền kinh tế luôn biến

động thì các DNVVN cần phải nâng cao khả năng tự tổ chức quản lý nh:

đào tạo thêm kỹ năng tổ chức quản lý cho lãnh đạo doanh nghiệp, học hỏi kinh nghiệm quản lý từ nớc ngoài... Bên cạnh đó Nhà Nớc ta nên có một trung tâm cung cấp các thông tin về thị trờng cho các DNVVN để họ kịp nắm bắt xu hớng phát triển của nền kinh tế tạo cho việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

Đây chỉ là một số ý chính rút ra từ kinh nghiệm của một số nớc đi tr- ớc. Trên cơ sở các ý đó khi vận dụng vào Việt Nam phải đa ra các biện pháp cụ thể hơn nữa cho phù hợp.

Nói tóm lại: Qua những phần lý luận trình bày ở chơng 1 đã đa ra cho chúng ta một cách nhìn khái quát nhất về DNVVN. Vai trò của tín DNVVN trong nền kinh tế thị trờng và các điều kiện để phát triển DNVVN.

Đóng góp vào phát triển DNVVN là vai trò của tín dụng ngân hàng đối vơí phát triển DNVVN. Và thông qua kinh nghiệm trong việc hỗ trợ DNVVN phát triển của các nớc đi trớc thì rút ra một số bài học cho Việt Nam.

Ch

ơng 2

Thực trạng đầu t tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh ngân hàng công thơng Thái Nguyên

2.1.Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh thái nguyên

Là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc có diện tích tơng đối rộng trong đó đồi núi là chủ yếu, dân số không nhiều song cũng có tới hơn 300 doanh nghiệp hoạt động ở mọi loại hình kinh tế. Để phát huy những tiềm năng vốn có về tài nguyên nh: diện tích rừng nhiều, có vùng đồi chè Tân C-

ơng, có mỏ than Khánh Hoà, mỏ sắt Trại Cau, khu du lịch Hồ Núi Cốc...

Tỉnh đang cố gắng xây dựng một cơ cấu công nông nghiệp, dịch vụ, du lịch hợp lý, nâng cấp cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ.

Năm 2003 tỉnh Thái Nguyên đợc Nhà Nớc phong lên thành phố hạng hai vì nền kinh tế của Tỉnh có nhiều bớc phát triển mới. Trong đó có một phần không nhỏ là sự đóng góp của màng lới DNVVN trên địa bàn. Các DNVVN không chỉ tập trung nhiều ở trung tâm thành phố Thái Nguyên, khu công nghiệp Gang Thép mà còn phân bố ở các vùng xa, vùng cao nh ở các huyện Định Hoá, Võ Nhai, Phú Bình... Hiện tại cả Tỉnh có khoảng gần 200 doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ gồm các loại hình doanh nghiệp:

Doanh nghiệp Nhà nớc, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty t nhân.

Từ năm 2002 số lợng các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ trên

địa bàn tăng thêm nhiều: Công ty cổ phần tăng thêm 25 đơn vị, công ty TNHH tăng thêm 20 đơn vị, công ty t nhân tăng thêm14 đơn vị và tỉnh đã

có một công ty liên doanh với nớc ngoài mở ở khu công nghiệp Sông Công.

Cũng trong năm này Chính quyền Tỉnh đa ra chính sách cơ cấu tổ chức lại các doanh nghiệp trên địa bàn nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển. Sang đến năm 2003 số DNVVN Nhà nớc tăng lên 14 đơn vị, Công ty cổ phần thêm 16 đơn vị, Công ty TNHH thêm 18 đơn vị, Công ty t nhân thêm 8 đơn vị. Với sự phát triển và mở rộng không ngừng nên

trong những năm qua, các DNVVN đã đóng góp nhiều cho Ngân sách của Tỉnh. Năm 2003 tăng trởng GDP 8,7%, sản xuất công nghiệp tăng 14,3%, sản xuất lơng thực đạt 397,7 ngàn tấn tăng 10% so với năm 2002...

Bên cạnh những kết quả đạt đợc thì các DNVVN hoạt động trên địa bàn của Tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục nh : Khả năng tự chủ về tài chính của những doanh nghiệp còn yếu, nhiều doanh nghiệp vẫn cha có khả năng tiếp cận vốn tín dụng của ngân hàng dẫn đến mất cơ hội đầu t kinh doanh. Cơ sở vật chất còn lạc hậu kém phát triển cha bắt kịp với nhu cầu của thị trờng, phần lớn máy móc là công cụ thủ công hoặc nửa cơ giới

đã gần hết khấu hao.

Do hạn chế về qui mô, ngành nghề kinh doanh nên ngời điều hành doanh nghiệp này thờng có trình độ quản lý yếu kém, nhất là quản lý mảng sổ sách kế toán tài chính. Nhiều doanh nghiệp cha hạch toán đúng theo qui

định cuả Bộ tài chính, cha lập quỹ dự phòng rủi ro xảy ra trong kinh doanh và không có khả năng xây dựng kế hoạch sản xuất khả thi. Hầu hết ngời lao

động làm trong các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ trên địa bàn đều có trình độ thấp, cha đợc đào tạo tay nghề kỹ càng. Xuất phát rừ những hạn chế trên đã làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.

Chính điều này dễ dẫn doanh nghiệp đến phá sản, đây chính là lý do tại sao mỗi năm có thêm nhiều doanh nghiệp mới ra đời làm ăn có lãi, nhng cũng có nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong vài năm trở lại đây, các DNVVN trên địa bàn đã làm ăn có hiệu quả tạo ra nhiều của cải cho địa phơng. Song mặt bằng chung giống nh các DNVVN trên cả nớc thì các DNVVN ở Thái Nguyên còn nhiều mặt hạn chế xuất phát từ nhiều phía nh: từ bản thân doanh nghiệp, các điều kiện kinh tế xã hội, môi trờng pháp luật.... Nhng tựu chung lại phát triển DNVVN trên địa bàn là cần thiết, bởi nó tạo đà cho nền kinh tế của Tỉnh phát triển cân đối giữa các huyên vùng sâu, vùng xa với trung tâm thành phè.

2.2. Thực trạng đầu t tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng công thơng Thái Nguyên

Một phần của tài liệu Giải pháp tín dụng đối với phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Thái Nguyên.DOC (Trang 22 - 27)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(67 trang)
w