Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.3. SƠ LƢỢC VỀ HÀNH VI NGÔN NGỮ
Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp đặc biệt quan trọng của con người. Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm gây ra hiệu quả, tác động nào đối với nhân vật giao tiếp đó chính là người nói đã dùng hành vi ngôn ngữ.
Theo cách hiểu thƣ nhất, hành vi ngôn ngữ (hay còn gọi là hành động ngôn ngữ, hành động phát ngôn) là một hành động đặc biệt của con người với phương tiện là ngôn ngữ. Theo cách hiểu thứ hai, hành vi ngôn ngữ là “một đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu – ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm- âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó”[45, 107].
Khi người (người viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc) trong một ngữ cảnh nhất định là người nói (người viết) đã thực hiện một hành vi ngôn ngữ. Hành vi ngôn ngữ có khả năng làm thay đổi trạng thái tâm lý hành động của người nói thậm chí cả người nghe. Do vậy, hành vi ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong hoạt động giao tiếp của con người.
1.3.2. Phân loại các hành vi ngôn ngữ
Có nhiều căn cứ để phân loại hành vi ngôn ngữ, theo đó, hành vi ngôn ngữ đƣợc chia thành nhiều nhóm khác nhau. Searle đã chia hành vi ngôn ngữ thành 5 nhóm, dựa vào 12 tiêu chí. Xin xem cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập hai: Ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu trang 125-126
Luận văn này không có nhiệm vụ đi nghiên cứu cũng nhƣ miêu tả các nhóm hành vi ngôn ngữ nên ở đây chúng tôi chỉ nêu khái niệm sơ lƣợc về hai hành vi ngôn ngữ đƣợc Vi Hồng sử dụng khá hiệu quả, đó là hành vi hỏi và hành vi rào đón.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3.2.1. Hành vi ngôn ngữ “hỏi”
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, hỏi là một hành vi ngôn ngữ phổ biến, một hành vi ngôn ngữ tham gia thường xuyên vào các cấu trúc hội thoại. Mặt khác, nhờ sự tác động của ngữ cảnh và thông qua những sự chuyển hóa khác nhau mà câu hỏi có thể thực hiện nhiều chức năng giao tiếp, những hành vi tại lời rất đa dạng.
Hành vi ngôn ngữ hỏi là hành vi ngôn ngữ trong đó có chứa các biểu thức dùng để hỏi. Hành vi hỏi thuộc loại hành vi ở lời theo phân loại hành vi ngôn ngữ của Austin. Trong hành vi hỏi có hành vi hỏi trực tiếp và hành vi hỏi gián tiếp.
Ví dụ:
Hỏi là một hành vi ngôn ngữ trực tiếp khi nó yêu cầu người nghe một câu trả lời.
Bây giờ mận mới hỏi đào:
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
“Mận” là người con trai, “đào” là người con gái, “vườn hồng” là tình cảm, hay trái tim của người con gái. Chàng trai đã dùng hình thức hỏi trực tiếp để dò xét gia thế, tình cảm của người con gái. Điều này được biểu hiện rõ qua câu trả lời của cô nàng.
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Hành vi hỏi đƣợc dùng gián tiếp để thực hiện nhiều mục đích khác nhau nhƣ: hỏi để nhắc nhở, hỏi để trách móc, hỏi để khẳng định, hỏi để cầu khiến.
Ví dụ:
Thuyền về có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
“Thuyền”, “bến” là hình ảnh ẩn dụ quen thuộc chỉ người con trai (hay người chồng) và người con gái (hay người vợ). Vì một lý do nào đó chàng và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nàng ly biệt. Chàng nhƣ con thuyền trôi giạt, lênh đênh, còn nàng nhƣ bến đỗ, qua tháng năm không dịch chuyển. Xa cách muôn trùng, người con gái không phút giây nguôi nhớ thương, mong đợi. Nàng tự nhủ lòng mình son sắc thủy chung. Tuy nhiên xa mặt cách lòng, biết chàng có còn nhớ đến ta!
Thuyền về có nhớ bến chăng?
Câu thơ nghe nhƣ một lời thở than ai oán. Bằng cách dùng hành vi ngôn ngữ gián tiếp qua biểu thức câu hỏi, cô gái đã khéo léo nhắc nhở chàng trai hãy giữ trọn lời nguyền đồng thời tác động đến tâm lý, tình cảm của người ra đi.
1.3.2.2. Hành vi ngôn ngữ rào đón
Lời rào đón là phần lưu ý cẩn trọng về cách phát ngôn được thực hiện như thế nào, xét trong quan hệ với các phương châm hội thoại [46, 157].
Các kiểu rào đón nằm trong mối quan hệ với bốn phương châm hội thoại là lượng, chất, quan hệ, cách thức. Người nói có chú ý dùng lời rào đón là người tỏ ra cẩn trọng trong sự phát ngôn của mình. Về phía người nói, người đó biết (có thể do kinh nghiệm, bằng trực giác) việc dùng lời rào đón là thông báo hiển ngôn rằng mình đang không gắn một cách đầy đủ với một phương châm hội thoại nào đó, như thế cũng có nghĩa là người nói cố gắng thực hiện phương châm đó. Đối với người nghe, người nói dùng hành vi rào đón là tỏ ra coi trọng việc người nghe nhìn nhận họ như là người có thái độ cộng tác tích cực.
Khi người ta muốn nói điều mà người ta tin rằng người nghe đã biết hoặc không cần phải nói ra, thì sự cẩn trọng đòi hỏi người ta phải dùng hành vi rào đón. Trong tiếng Việt, thường gặp các cách diễn đạt rào đón trong trường hợp này là: chắc chắn không nói thì anh cũng biết, không biết có nên nói hay không, nói thì cũng bằng thừa (mà tôi cứ phải nói), để khỏi dài dòng,… Những rào đón loại này cho thấy rằng người nói hiểu điều người đó nói ra là thừa và muốn báo rằng người đó có ý thức được phương châm về lượng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Khi người ta định nói điều mà người ta không tin chắc vào tính chân thực của nó thì người nói cẩn trọng thường dùng cách rào đón để diễn đạt sự không tin chắc đó. Trong tiếng Việt những rào đón kiểu này thường gặp là:
theo chỗ tôi biết, theo thiển ý của tôi, thiết tưởng, tôi cho là, nếu tôi không nhầm, nghe người ta nói, nghe đâu, người ta đồn là, hình như là… Đây là cách diễn đạt cho thấy người nói nắm được phương châm về chất.
Khi người nói muốn đưa ra một đề tài khác với để tài đang bàn thì những lời rào đón cẩn trọng thường được dùng trong tiếng Việt là: tiện thể tôi xin hỏi, không biết có nên bàn đến việc này không, nói nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng mà… Những lời rào đón như trên cho biết người nói hiểu rõ về phương châm quan hệ (chỉ nói những điều dính líu đến đề tài đang bàn).
Khi không thể diễn đạt được rõ ràng, người cẩn trọng thường thông báo về cái thực trạng đó bằng những lời rào đón mà trong tiếng Việt chúng thường đƣợc diễn đạt nhƣ sau: tôi không nhớ rõ lắm, tôi không biết nói thế nào cho dễ hiểu, tôi nói hơi dài dòng một chút... Đó là những rào đón liên quan đến phương châm cách thức.
Nhƣ đã thấy, sử dụng hành vi rào đón là tôn trọng quá trình trao đổi, tôn trọng quy tắc hội thoại. Tuy nhiên tồn tại những trường hợp không tuân theo một phương châm nào đó vẫn là điều được coi là bình thường.
1.3.2.3. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt với hình thức diễn đạt có thể chia làm hai loại là hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Hai loại hành vi này đƣợc phân biệt với nhau ở điểm cơ bản nhất là đích ở lời mà chúng hướng đến.
a) Hành vi ngôn ngữ trực tiếp
Hành vi ở lời là những hành vi ngôn ngữ được người nói thực hiện ngay khi nói năng. Những hành vi ngôn ngữ đƣợc thực hiện đúng với điều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
kiện sử dụng, đúng với đích ở lời của chúng đƣợc gọi là hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Tác giả Đỗ Hữu Châu gọi hành vi ngôn ngữ trực tiếp là “hành vi ngôn ngữ chân thực”[6, 145].
Ví dụ phát ngôn “ Bạn cho mình mượn cái bút này nhé ” là phát ngôn thể hiện hành vi ngôn ngữ đề nghị. Phát ngôn “ngày mai tôi sẽ đến” là phát ngôn thể hiện hành vi ngôn ngữ hứa hẹn. Hành vi đề nghị và hứa hẹn là hành vi ngôn ngữ trực tiếp.
Trong cuộc sống hành vi ngôn ngữ trực tiếp luôn luôn đƣợc sử dụng rộng rãi bởi nghĩa tường minh và chân thực của nó.
b) Hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc sử dụng với bề mặt là hành vi ngôn ngữ này nhƣng lại nhằm đạt tới đích ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác.
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “ một hành vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác”.[6, 146]
Ví dụ:
A: Cho tớ vay ít tiền nhé!
B: Mình vừa nộp quỹ hết rồi
Trong ví dụ này sp1 (vai nói) đề nghị sp2 (vai nghe) cho vay tiền nhƣng sp2 không trả lời là có hay không mà đƣa ra một lời thông báo là tớ vừa nộp quỹ hết tiền rồi với ý gián tiếp từ chối lời đề nghị của sp1, sp2 đã sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp và sp1 sẽ suy ra đƣợc đích ngôn mà sp2 muốn diễn đạt thông qua ngữ cảnh.
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau. Muốn nhận biết được hành vi ngôn ngữ gián tiếp trước hết phải nhận biết đƣợc hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp chính là kết quả suy ý từ hành vi ngôn ngữ trực tiếp mà sp1 phát ngôn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp đƣợc nhật biết qua các dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu thứ nhất là ngữ cảnh.
Ngữ cảnh là một dấu hiệu quan trọng để nhận ra hành vi ngôn ngữ gián tiếp . Tùy vào ngữ cảnh khác nhau mà người nghe phát hiện được ra người nói đang dùng hành vi ngôn ngữ gián tiếp nào.
Ví dụ phát ngôn Tôi bận quá sẽ đƣợc hiểu theo các nghĩa khác nhau tùy thuộc vào vai giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp. Nếu trong hoàn cảnh hai người bạn đang trò chuyện với nhau về công việc thì phát ngôn trên chỉ thông thường là hành vi thông báo về tình trạng công việc. Nếu trong hoàn cảnh một người bạn rủ đi chơi thì phát ngôn trên là hành vi từ chối.
- Dấu hiệu thứ hai là các biểu thức ngữ vi đặc thù.
Nhƣ đã biết hành vi ngôn ngữ luôn có một (hay một số) biểu thức ngữ vi đặc thù. Trong biểu thức ngữ vi, quan hệ giữa các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề về mặt ngữ nghĩa giữa các nhân tố ngữ cảnh, đặc biệt là những người giao tiếp đóng vai trò là phương tiện giao tiếp chỉ dẫn ở lời cho các biểu thức ngữ vi đó. Ngữ nghĩa của các thành phần tạo nên nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi trực tiếp càng gắn bó với các nhân tố ngữ cảnh bao nhiêu thì càng có khả năng thực hiện hành vi ngôn ngữ gián tiếp bấy nhiêu.
Ví dụ trong tiếng Việt, các biểu thức ngữ vi hỏi để thực hiện hành vi gián tiếp chào khá phổ biến, nhƣ phát ngôn “Bác đi đâu đấy ạ?. Phát ngôn này có hình thức diễn đạt là biểu thức ngữ vi hỏi nhƣng đích lại là chào.
Những biểu thức ngữ vi đặc thù là dấu hiệu để nhận ra các hành vi ngôn ngữ gián tiếp rất hiệu quả.