BIỆN PHÁP KHOA TRƯƠNG TRONG VĂN XUÔI CỦA VI HỒNG

Một phần của tài liệu Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng (Trang 93 - 98)

Chương 3. MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ

3.3. BIỆN PHÁP KHOA TRƯƠNG TRONG VĂN XUÔI CỦA VI HỒNG

Khoa trương còn gọi là thậm xưng hay nói quá, là phép tu từ cường điệu quy mô, tính chất, mức độ, của những sự vật hiện tƣợng đƣợc miêu tả.

Thậm xƣng có tác dụng làm nổi bật những ý cần diễn đạt. Tuy nói quá nhƣng vẫn phản ánh đƣợc và đúng bản chất của sự vật hiện tƣợng.

Bên cạnh việc sử dụng biện pháp so sánh, biện pháp nhân hóa, cách diễn đạt khoa trương trong văn xuôi của Vi Hồng cũng được sử dụng khá nhiều. Chúng tôi đã thống kê được 74 trường hợp.

Những sự vật hiện tƣợng đƣợc nhà văn nói quá đi với bản chất thật của nó là những sự vật gần gũi với con người.

Với sự am hiểu văn hóa dân tộc, cách sử dụng ngôn ngữ đặc trƣng Vi Hồng đã tạo ra những nét văn hoá vùng miền qua sử dụng lối nói này.

3.3.2. Một số ví dụ về biện pháp khoa trương

Có thể thấy, cách nói khoa trương được Vi Hồng sử dụng chủ yếu để miêu tả, giới thiệu sự vật và con người.

- Biện pháp khoa trương được Vi Hồng dùng để miêu tả, giới thiệu sự vật, ví dụ:

Ví dụ (27): Lả đã ra đến mường Nước Hang Rơi bao giờ chưa? Lả có bạn thân ở mường Nước Hang Rơi không?

Mường Nặm Tốc Rù em đã có đôi lần đi qua. Đấy là mường đất rộng chim bay gẫy cánh, quạ bay đứt hơi, mường nước trong nước ngọt như đường, em những mơ ƣớc kết bạn mà không có bạn: - Cô gái vừa nói vừa nhìn Nghít và nở một nụ cười lặng lẽ.

[48, 26]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Ví dụ trên là đoạn đối thoại giữa Lả và Nghít trong Lòng Dạ Đàn Bà”, khi Nghít hỏi Lả đã ra tới mường Nước Hang Rơi là nơi Nghít sinh sống chưa thì Lả trả lời với một thái độ thật thà và ngƣỡng mộ vùng đất đó. Chính vì ngƣỡng mộ mà nhân vật của Vi Hồng đã dùng cách nói quá và diễn đạt bằng những từ ngữ khoa trương, như: “Đấy là mường đất rộng chim bay gẫy cánh, quạ bay đứt hơi, mường nước trong nước ngọt như đường, em những mơ ƣớc kết bạn mà không có bạn.

Cũng nhận thấy thêm trong cách diễn đạt khoa trương này là cách ví von đầy hình ảnh. Tuy nói quá, diễn đạt khoa trương nhưng tác phẩm của Vi Hồng không làm cho độc giả có cảm giác khoác lác, gây phản cảm.

Vi Hồng cũng đã cho độc giả biết rất nhiều sự vật với cách nói truyền thống của dân tộc Tày thông qua cách diễn đạt khoa trương. Chẳng hạn, hình ảnh ngôi nhà của những chủ nhân nghèo hiển hiện thật rõ nét nhƣ trong ví dụ dưới đây:

Ví dụ (28): - … Chúng tôi đi qua thì ghé thăm. Chẳng là bác Khiu bảo năm nay đàn trâu còn khá hơn… Quả khá hơn rất nhiều! Chúc cô cố gắng nhá

! Ha, ha…

- Dạ! Nhà chúng cháu nhà cây lau cây sậy, gà chọi nhau còn đổ, châu chấu đạp còn nghiêng, không có chỗ đứng chỗ ngồi êm, các bác vào nhà tạm…

Thôi, thôi… chúng tôi xin phép - Vẫn ông thƣ ký Ủy ban nói.

[47, 161]

Như đã nói, cách nói khoa trương được Vi Hồng sử dụng không chỉ để giới thiệu sự vật mà còn để giới thiệu con người, giới thiệu nhân vật. Xin dẫn một ví dụ tiêu biểu:

Ví dụ ( 29): Xin tâu trình đại ca. Bà Va Đáo này là một cây lƣợn ngọt ngào. Nàng cất tiếng lượn thì vượn đang khóc chồng chết cũng phải nín, lắng tai nghe. Chim chóc và muông thú, thảy đều dựng tai, trố mắt mà nghe, mà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhìn nàng cất tiếng lượn. Nàng có chiếc đàn tính then kêu vang vượt cả núi.

Nàng đàn lên như chim trăm giọng đồng ca chào bình minh những buổi sáng đẹp trời. Khi nàng cất tiếng hát then thì người ốm cũng phải khỏe lại, người già trẻ lại, người làm giặc chỉ muốn làm nghề lương thiện. Binh lính muốn vứt hết gươm đao. Tiểu đệ đây biết rất rõ về bà ta.

[49, 317]

Hai ví dụ vừa dẫn đƣợc trích trong tác phẩm Núi Cỏ Yêu Thương. Ở ví dụ thứ nhất, Vi Hồng thuật lại lời mời khách của nhân vật trong tác phẩm. Đó là cách mời khách theo kiểu cổ của người Tày. Sử dụng câu mời như vậy là lịch sự và trang trọng. Tuy nhiên, cũng thấy rằng đây là cách nói quá, nói khoa trương nhưng đọc lên thì người tiếp nhận thấy được thêm kiểu nói rất nhẹ nhàng tinh tế, mang giọng điệu riêng cách diễn đạt riêng của người miền núi.

Ở ví dụ thứ hai, tác giả cho người đọc biết về tiếng hát hay của nhân vật Va Đáo thông qua cách giới thiệu khoa trương của một nhân vật khác trong tác phẩm “Phụ Tình”. Qua lời giới thiệu của một tên cướp với chủ tướng của mình, hình ảnh nàng Va Đáo đàn giỏi hát hay đã hiện lên trước mắt người đọc. Bằng lối nói quá và cách diễn đạt khoa trương thì tài năng của Va Đáo lại càng đƣợc khẳng định. Tài năng qua tiếng hát của Va Đáo đƣợc ví như một liều thuốc thần dược đối với người dân tộc ở mỗi bản mường mà Va Đáo đi qua:“Khi nàng cất tiếng hát then thì người ốm cũng phải khỏe lại, người già trẻ lại, người làm giặc chỉ muốn làm nghề lương thiện. Binh lính muốn vứt hết gươm đao”. Bằng biện pháp khoa trương, ngoa dụ, người đọc không chỉ thấy con người bị say bởi tiếng then Va Đáo mà đến chim chóc muông thú cũng phải ngả nghiêng: “ Nàng cất tiếng lượn thì vượn đang khóc chồng chết cũng phải nín, lắng tai nghe. Chim chóc và muông thú, thảy đều dựng tai, trố mắt mà nghe, mà nhìn nàng cất tiếng lượn.”

Trong đối thoại, các nhân vật của Vi Hồng thường xuyên sử dụng cách nói giàu hình ảnh theo lối so sánh ví von và lối diễn đạt khoa trương.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Để gửi lời cầu chúc may mắn cho người bạn gái mà mình yêu quý sắp về nhà chồng, nhân vật của Vi Hồng cũng lại dùng lối nói khoa trương để thể hiện được thiện ý chân thành của người nói.

Ví dụ (30): Lời thấp của em anh trả một nén bạc, lời em cao anh trả hai nén vàng! Cầu mong những cơn gió mát sẽ quạt cho em vƣợt đèo về nhà chồng. Hoa rừng rực rỡ ngàn bông, hương hoa ngan ngát đọng lại giữa áng mây buồn, suối ngừng róc rách, chim ngừng giọng hát dừng cánh bay…tất cả im lặng tiễn đưa em đi đến chân trời của hạnh phúc. Chúc em về với ven trời lớn của văn minh.

[48, 32]

Những câu nói giàu hình ảnh, cùng với cách diễn đạt khoa trương như trong ví dụ vừa dẫn đã tạo nên một đặc điểm khá lạ trong giọng văn Vi Hồng.

Có rất nhiều nhà văn đã sử dụng phương thức biểu đạt trong ngôn ngữ như Vi Hồng, nhƣng đọc văn của ông ta vẫn thấy phảng phất một chút giọng điệu riêng của người miền núi. Văn Vi Hồng mang nét đẹp của văn hóa Tày.

Không chỉ trong lời thoại nhân vật mà ngay trong lời văn của người dẫn truyện, lời văn của ông cũng sử dụng cách diễn đạt khoa trương.

Ví dụ (31): - Hơi men hừng ngọn lửa lên mặt, ngọn lửa đốt hai con mắt ngà ngà là lúc những cái cười nổ bung thành bông thành đoá tóe loe. Những câu nói cùng một lúc phát ra từ những cái miệng dẻo quẹo. Những câu nói tự vang, tự gối lên nhau, tự đè quấn quýt lấy nhau rồi rơi rào rào xuống các bát thức ăn, bát canh, chén rượu. Những câu nói không có những lỗ tai để hứng để nghe, cho nên nó phải nằm chết dưới đáy cái bát, cái chén.

[48, 151]

- Làm quan ngủ đến trưa, mặt trời vấp phải lan can trước cửa mới dậy.

Họ nằm bên bàn đèn hút thuốc phiện cho đến lúc gà gáy mấy độ gọi sương lên mới ngủ. Sống như vậy nếu là người dân thì đã đói khát bán sống vợ, bán

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

con cái, nhƣng vì kẻ làm quan họ sống nhƣ thế họ vẫn giàu. Vì thế nhiều người ở mường Nà Lạn phải khao khát làm quan, mơ ước làm quan. Vì thế họ ganh đua nhau, tố cáo nhau, xếp nên gánh nên khênh tội lỗi để đổ cho nhau, họ dùng đòn bẩy, bẩy tảng đá vạn cân của tội lỗi để lật tẩy nhau…

[50, 52]

Ví dụ đầu đƣợc trích dẫn trong tác phẩm “ Lòng Dạ Đàn Bà”. Khi miêu tả cuộc uống rượu và tiếng nói chuyện của những người cùng tham gia cuộc rượu, tác giả đã dùng cách diễn đạt rất khoa trương để miêu tả. Chúng ta thường xuyên gặp kiểu diễn đạt này khi đi tìm hiểu văn xuôi Vi Hồng. Với cách nói khoa trương, giọng điệu văn xuôi của ông mang hơi thở riêng, đó mới chính là hơi thở miền núi. Hãy đọc những câu văn ông viết: Những câu nói tự vang, tự gối lên nhau, tự đè quấn quýt lấy nhau rồi rơi rào rào xuống các bát thức ăn, bát canh, chén rượu. Những câu nói không có những lỗ tai để hứng để nghe, cho nên nó phải nằm chết dưới đáy cái bát, cái chén. Quả thật, cách diễn đạt bằng những câu văn nhƣ thế này mang nét đặc trƣng của văn hóa vùng miền rất sâu đậm.

Ở ví dụ tiếp theo, tác giả dẫn dắt về việc tranh chức tranh quyền của bọn chúa mường. Khi ganh đua nhau để giành lấy chức quyền danh lợi, họ sẵn sàng đổ tội lỗi cho nhau. Vi Hồng đã dùng cách nói khoa trương để miêu tả sự tranh giành này: “ Họ ganh đua nhau...xếp nên gánh nên khênh tội lỗi để đổ cho nhau, họ dùng đòn bẩy, bẩy tảng đá vạn cân của tội lỗi để lật tẩy nhau”.

Mặc dù sử dụng lối diễn đạt khoa trương nhưng ngôn ngữ của Vi Hồng thật giản dị nên thuyết phục người đọc. Có thể nói, cũng như các biện pháp tu từ khác trình bày ở trên, cách diễn đạt khoa trương đã được Vi Hồng sử dụng rất hiệu quả trong sáng tác của mình. Cùng là chất liệu ngôn ngữ, nhƣng mỗi nhà văn lại có cách chế biến riêng để tạo nên những sản phẩm mang phong cách của mình.

Một phần của tài liệu Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng (Trang 93 - 98)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(114 trang)