Phần 13: Chế tạo cầu thép
VI- Xưởng lắp ráp tổng thể VII- Xưởng sơn
13.2. Tiếp nhận và chuẩn bị thép
Các loại thép hình do các nhà máy chế tạo thép xuất xưởng phải có dấu hiệu kiểm tra của nhà máy, dấu chứng nhận thí nghiệm về các nấu và số hiệu thép. Trong giấy chứng minh của thép, cần ghi rõ thành phần hoá học và các số hiệu thí nghiệm cơ học. Trường hợp đặc biệt có thể tiến hành thí nghiệm để xác minh các đặc trưng cơ, lý, hoá của thép. Tuy nhiên khi kiểm tra mặt ngoài của thép hình, thép tấm yêu cầu phải không có xỉ, bọt, nứt, phân lớp hoặc các khuyết tật khác.
Sau khi tiếp nhận thép và lấy hồ sơ cần đánh dấu bằng cách dùng sơn trắng ghi số hiệu hồ sơ tiếp nhận lên đầu của thép. Ngoài ra trên đầu của thanh còn đánh dấu bằng các màu sơn khác nhau để phân biệt số hiệu thép. Ví dụ thép M16C đánh dấu bằng các vạch trắng nằm song song với nhau, thép C15XCHD bằng các vạch sơn màu da cam.
Trước khi gia công, thép cần được nắn thẳng, mục đích là để khắc phục biến dạng của thép hình do quá trình nguội lạnh không đều sau khi cán, hoặc do va chạm trong quá trình nâng, cẩu và vận chuyển.
Nắn thép là khâu cơ bản trong công tác chuẩn bị. Thông thường thép được uốn nắn, điều chỉnh ở trạng thái nguội. Trường hợp thép bị công vênh quá lớn mới điều chỉnh bằng nung nóng. Uốn nắn thép ở trạng thái nguội thực chất là đã bắt thép làm việc trong giai đoạn chảy dẻo, làm giảm tính dẻo và do đó làm cho thép kém phẩm chất hơn.
Vì vậy biến dạng dọc tương đối cho phép của thép khi uốn nắn phải nhỏ hơn 1%, tức là mới chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ biến dạng dẻo của thép than và thép hợp kim thấp (2,5 - 3%). Các trị số bán kính cong tối thiểu ρmin và độ võng cực
đại cho thép fmax khi uốn nắn phụ thuộc vào kích thước tiết diện ngang và chiều dài
đoạn có biến dạng l (bảng 13.1).
Bảng 13.1
Nếu khi uốn nắn, biến dạng của thép vượt quá trị số cho phép thì phải tiến hành uốn nắn ở trạng thái nóng. Nhiệt độ khi nắn nóng phải đảm bảo từ 900 - 11000C và quá trình uốn nóng phải kết thúc ở nhiệt độ không nhỏ hơn 7000C.
Nắn nguội
Khi nắn bản thép trên máy năn thì thép được di chuyển qua một hệ thống con
lăn bố trí xen kẽ cho thép có biến dạng hình sin. Khoảng cách tính giữa các con lăn bố trí nhỏ hơn chiều dày của thép bản một chút để trong quá trình di chuyển chỉ thớ ngoài cùng của thép xuất hiện biến dạng dẻo. Độ giảm chiều dày cũng như độ cong và độ uốn không được vượt quá trị số cho phép ghi trên bảng 13.1. Để đảm bảo uốn nắn thật phẳng, thép tấm được di chuyển qua hệ thống con lăn vài lần.
Hình 13.3: Máy nắn thép tấm
a/ Sơ đồ bố trí con lăn b/ Sơ đồ máy nắn thép tấm
Máy nắn thép tấm (hình 13.3) thường có năm con lăn, trong đó thớt dưới gồm ba con lăn cố định, thớt trên gồm hai con lăn có thể di chuyển theo chiều đứng để
điều chỉnh theo chiều dày của các tấm thép khi nắn nguội. Hai con lăn trên ngoài cùng (con lăn thứ sáu và thứ bảy) không tham gia uốn nắn thép nhưng đã chống thép khỏi bị uốn cong lên trên khi ra khỏi bàn lăn. Độ cao của các con lăn này bố trí sao cho khi ra khỏi bàn lăn tấm thép hoàn toàn thẳng. Các con lăn dưới chuyển động nhờ một động cơ điện truyền lực qua bộ truyền động.
Phía trước và sau máy có bố trí hai chiếc bàn, trên bàn có bố trí con lăn cố
định. Thép tấm trước và sau khi nắn đều lăn trên các bàn lăn này. Mặt trên của bàn lăn có cùng cao độ với mặt trên của các con lăn làm việc ở thớt dưới.
Sơ đồ làm việc của máy nắn thép góc cũng giống sơ đồ máy nắn thép tấm,
nhưng các con lăn đều có hình dạng như thép hình và trục các con lăn được bố trí hÉng (h×nh 13.4).