Chương I. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA HIỆU TRƯỞNG
I. Công ước quốc tế về quyền trẻ em
5. Nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Chính trong khi chuẩn bị cho Năm quốc tế về thiếu nhi năm 1979, ý tưởng một Công ước về quyền trẻ em nhằm tăng cường hiệu quả của Tuyên ngôn Giơ ne vơ về quyền trẻ em năm 1924 và Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 đã giành được sự ủng hộ của nhiều nước. Phái đoàn Ba Lan đặt vấn đề với Uỷ ban quyền con người về khả năng có thể cho ra đời một công ước. Uỷ ban quyền con người đã lập ra một nhóm công tác đứng đầu là luật sư người Ba lan Adam Lopatka để thảo ra một văn bản của Công ước. Các tổ chức cứu trợ trẻ em và các tổ chức phi chính phủ khác đưa ra một số các đề nghị có tác động lớn đến văn bản dự thảo thực tế của công ước.
Năm 1983, 3 tổ chức phi chính phủ, đó là: Tổ chức Bảo vệ trẻ em quốc tế, Văn phòng trẻ em Thiên chúa giáo quốc tế và Tổ chức Rada Barnen quốc tế có sáng kiến kêu gọi một cuộc họp tư vấn gồm các tổ chức phi chính phủ để xem xét dự thảo Công ước và gửi kiến nghị lên để nhóm công tác cân nhắc. Nhóm công tác họp hàng năm và đã đệ trình các dự thảo lên Ủy ban quyền con người. Năm 1988, văn bản dự thảo đã được Ủy ban quyền con người phê duyệt. Sau đó được Hội đồng Kinh tế - Xã hội LHQ và cuối cùng là Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 20/11/1989.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em chính thức có hiệu lực vào ngày 2/9/1990. Tính đến ngày 4/5/2009 Công ước đã có 193 quốc gia thành viên. Ngày 26/01/1990 Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á ký. Ngày 20/02/1990 Hội đồng Nhà nước đã phê chuẩn Công ước mà không có bảo lưu bất cứ điều khoản nào. Đến nay chỉ còn duy nhất có Mỹ và Somali là thành viên Liên hợp quốc đã ký, nhưng chưa phê chuẩn Công ước3.
5.2. Những nguyên tắc cơ bản của Công ước Không phân biệt đối xử (Điều 2)
Nguyên tắc lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em (Điều 3) Sống còn và phát triển (Điều 6)
Tôn trọng và lắng nghe ý kiến của trẻ em (Điều 12) 5.3. Nội dung các quyền của trẻ em
Điều Nội dung Phân tích/Bình luận Điều
1
Trẻ em là những người dưới 18 tuổi
Quy định mở, độ tuổi được coi là trẻ em có thể khác nhau giữa các quốc gia.
Độ tuổi bắt đầu được coi là trẻ em không quy định cụ thể, nhưng về nguyên tắc, “...trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý từ trước cũng như sau khi ra đời” (Lời nói đầu)
3 Lý do Mỹ chưa phê chuẩn Công ước, vì có quan điểm khác nhau về các nhóm quyền con người. Trên thực tế, Mỹ chỉ coi trọng và nhấn mạnh các quyền dân sự, chính trị mà không thừa nhận quyền kinh tế, xã hội và văn hoá là quyền con người. Vì thế đến nay, Mỹ vẫn chưa tham gia Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966. Trong khi Công ước quốc tế về quyền trẻ em đề cập các quyền của trẻ em trên cả hai phương diện:
quyền dân sự, chính trị và quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Hơn nữa, Công ước quốc tế về quyền trẻ em cấm các quốc gia thành viên áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên; trong khi hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên vẫn được duy trì tại một số bang ở Mỹ.
- Còn Sômali, chưa phê chuẩn Công ước, do tình hình nội chiến, Chính phủ không ổn định.
Dự án SREM – Sổ tay quản trị hiệu quả trường học 109 2 biệt đối xử Công ước, không phụ thuộc vào các yếu tố dân tộc, chủng tộc, giới
tính, tôn giáo, dòng dõi gia đình, tài sản...và bất kỳ yếu tố nào.
Điều 3
Lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em
Trong mọi hoạt động có liên quan đến trẻ em, nhà nước, các bậc cha mẹ và các chủ thể khác phải lấy lợi ích của trẻ em là ưu tiêu hàng đầu.
Điều 4
Trách nhiệm của các quốc gia thành viên
Các quốc gia thành viên phải tiến hành mọi biện pháp pháp lý và các biện pháp thích hợp khác để thực hiện các quyền trẻ em trong Công ước.
Điều
5 Quyền, trách nhiệm của các bậc cha mẹ trong việc chỉ bảo, hướng dẫn con cái.
Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ trong việc đưa ra những chỉ bảo và hướng dẫn thích hợp với trẻ em, phù hợp với năng lực, sự phát triển của các em.
Quyền và nghĩa vụ kể trên có thể áp dụng với những người giám hộ hoặc những thành viên trong gia đình mở rộng hoặc cộng đồng.
Điều 6
Quyền được sống và phát triển
Mỗi trẻ em đều có quyền được sống, không ai được xâm hại tính mạng của trẻ.
Các quốc gia phải bảo đảm đến mức tối đa có thể được sự sống còn và phát triển của trẻ em.
Điều
7 Quyền có họ tên và quốc tịch
Trẻ em phải được đăng ký họ tên, quốc tịch ngay sau khi sinh.
Trong chừng mực có thể, trẻ em có quyền được biết cha mẹ mình là ai và được cha mẹ chăm sóc sau khi ra đời.
Điều
8 Quyền được
giữ gìn bản sắc
Trẻ em có quyền giữ gìn bản sắc của mình, kể cả họ tên, quốc tịch và quan hệ gia đình.
Trường hợp trẻ em bị tước đoạt các yếu tố thuộc về bản sắc, phải được các quốc gia thành viên giúp đỡ khôi phục
Điều 9
Quyền được sống chung với cha mẹ
Không được cách ly trẻ em khỏi cha mẹ trừ khi điều đó vì lợi ích tốt nhất của trẻ (như khi trẻ em bị cha mẹ lạm dụng, sao nhãng hoặc khi cha mẹ sống cách ly nhau và cần có một quyết định về nơi cư trú của trẻ em). Sự cách ly như vậy chỉ có thể được thực hiện bằng một quyết định theo pháp luật của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong các trường hợp bị cách ly, trẻ em có quyền được duy trì quan hệ và tiếp xúc trực tiếp với cha, mẹ thường xuyên, trừ trường hợp điều đó không có lợi cho trẻ.
Nếu cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ bị giam giữ, đi đày, bị tử hình hay chết trong tù thì nhà nước cung cấp thông tin về việc đó cho trẻ em, trừ khi việc cung cấp thông tin đó không có lợi cho trẻ.
Điều 10
Quyền được đoàn tụ gia đình
Áp dụng trong trường hợp, vì những lý do nhất định, trẻ em và bố mẹ phải sống ở những quốc gia khác nhau.
Trẻ em và cha mẹ của các em có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào cũng như có quyền trở về nước mình với mục đích đoàn tụ gia đình.
Các quốc gia thành viên phải bảo đảm quyền này bằng cách xem xét thủ tục xuất, nhập cảnh cho trẻ em và cha mẹ một cách thuận lợi, nhanh chóng.Trong trường hợp trẻ em và cha mẹ sống ở những nước khác nhau, trẻ em có quyền được duy trì quan hệ và tiếp xúc với cha mẹ đều đặn.
Điều 11
Bảo vệ trẻ em khỏi việc đưa ra nước
Các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp phòng chống việc mang trẻ em ra nước ngoài hay giữ trẻ em ở nước ngoài một cách bất hợp pháp bởi cha, mẹ hay một bên thứ ba nào đó, thông
Dự án SREM – Sổ tay quản trị hiệu quả trường học 110 pháp và
không đưa trở về Điều
12
Tôn trọng và lắng nghe ý kiến của trẻ em
Trẻ em phải có cơ hội hình thành và bày tỏ quan điểm riêng của mình về các vấn đề liên quan đến trẻ, trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt trong tố tụng hình sự, hành chính.
Những quan điểm, ý kiến của trẻ phải được tôn trọng, tuỳ theo độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ.
Điều 13
Quyền tự do biểu đạt và tiếp nhận thông tin
Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến về các vấn đề liên quan đến trẻ em.
Quyền này bao gồm việc tìm kiếm, tiếp nhận, phổ biến tất cả các loại thông tin, tư tưởng, bằng bất kỳ hình thức truyền thông nào, không chịu bất kỳ giới hạn nào về lãnh thổ.
Quyền này có thể phải chịu những giới hạn do pháp luật quy định để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, y tế, đạo đức và để tôn trọng quyền, tự do của người khác.
Điều 14
Quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo
Trẻ em có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo.
Nhà nước phải tôn trọng các quyền này của trẻ em, đồng thời phải tôn trọng quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và khi thích hợp, của người giám hộ pháp lý, trong việc hướng dẫn trẻ em thực hiện các quyền này.
Điều
15 Quyền được tự do kết giao, hội họp hoà bình
Trẻ em có quyền được tự do gặp gỡ với những trẻ em khác một cách hoà bình, gia nhập, thành lập các tổ chức của trẻ em.
Quyền này có thể phải chịu những giới hạn do pháp luật quy định để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, y tế, đạo đức và để tôn trọng quyền, tự do của người khác.
Điều 16
Quyền được bảo vệ sự riêng tư
Trẻ em có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp tuỳ tiện vào những việc riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín hay sự nói xấu, vu cáo.
Điều
17 Quyền được tiếp xúc với những thông tin thích hợp từ nhiều nguồn
Trẻ em có quyền được tiếp xúc, thu nhận những thông tin, tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau.
Nhà nước phải có biện pháp khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng truyền bá những thông tin lành mạnh, tiến bộ, có ích cho sự phát triển thể chất, tinh thần, đạo đức của trẻ em; đồng thời phải có những biện pháp bảo vệ trẻ em khỏi những thông tin, tài liệu độc hại.
Điều 18
Quyền, trách nhiệm của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái
Cha mẹ hoặc người giám hộ pháp lý có trách nhiệm hàng đầu trong việc nuôi dưỡng trẻ em.
Nuôi dưỡng, chăm sóc con cái là trách nhiệm chung của các bậc cha mẹ.
Các quốc gia thành viên có trách nhiệm dành cho các bậc cha mẹ và người giám hộ pháp lý sự giúp đỡ thích hợp trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em.
Điều 19
Quyền được bảo vệ khỏi các hình thức bạo lực, lạm dụng, bóc lột, sao nhãng.
Trẻ em có quyền được Nhà nước bảo vệ khỏi các hình thức bạo lực về thể chất, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, bị lạm dụng (gồm cả lạm dụng tình dục), bị bỏ mặc hoặc sao nhãng sự chăm sóc, bị ngược đãi hoặc bóc lột trong khi trẻ em đang sống với cha mẹ, hoặc một người trong cha, mẹ; của người giám hộ pháp lý hoặc của bất kỳ người nào khác được giao việc chăm sóc trẻ em.
Sự bảo vệ của các quốc gia bao gồm cả việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm, các chương trình xã hội hỗ trợ trẻ em bị xâm hại...
Dự án SREM – Sổ tay quản trị hiệu quả trường học 111 20 chăm sóc,
nuôi dưỡng khi bị mất môi trường gia đình
được nhà nước bảo đảm sự chăm sóc thay thế, phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia.
Các hình thức chăm sóc thay thế có thể là gửi nuôi, nhận làm con nuôi hoặc đưa trẻ vào các cơ sở chăm sóc thích hợp...
Việc tạo môi trường chăm sóc thay thế phải quan tâm đến tính chất liên tục và sự phù hợp về văn hoá như xuất xứ dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ...của trẻ em. Việc đưa trẻ em và các trung tâm nuôi dưỡng là biện pháp cuối cùng.
Điều 21
Quyền được nhận làm con nuôi
Trẻ em có quyền được nhận làm con nuôi. Việc nhận trẻ em làm con nuôi phải được tiến hành theo quy định của pháp luật, với mục đích nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ.
Việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài chỉ được tiến hành khi không thể tìm được môi trường chăm sóc thay thế cho trẻ ở trong nước và phải bảo đảm trẻ phải được bảo vệ, chăm sóc với những tiêu chuẩn tương đương với các tiêu chuẩn ở trong nước.
Điều 22
Quyền được bảo vệ và giúp đỡ nhân đạo (với trẻ em tỵ nạn)
Trẻ em xin quy chế tỵ nạn hoặc được coi là tỵ nạn có quyền được bảo vệ và giúp đỡ nhân đạo thích đáng, kể cả khi không có cha mẹ hay người nào khác đi cùng. Sự bảo vệ và giúp đỡ đó bao gồm cả việc tìm kiếm thông tin về cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình để giúp trẻ em đoàn tụ gia đình.
Điều 23
Quyền được điều trị, giáo dục và chăm sóc đặc biệt.
Trẻ em tàn tật về thể chất, tinh thần có quyền được chăm sóc, giáo dục và điều trị đặc biệt để giúp các em có cuộc sống trọn vẹn, đầy đủ, được bảo đảm phẩm giá, đạt được mức độ tự lập và hoà nhập với xã hội ở mức độ cao nhất có thể được.
Điều
24 Quyền được chăm sóc y tế.
Trẻ em có quyền được chăm sóc y tế và được hưởng trạng thái sức khoẻ ở mức độ cao nhất có thể được.
Các quốc gia thành viên phải chú trọng đặc biệt tới việc phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em, chăm sóc sức khỏe thích hợp cho bà mẹ trước và sau khi sinh, chống suy dinh dưỡng, xoá bỏ những tập tục có hại cho sức khỏe trẻ em, giáo dục sức khỏe, y tế và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh.
Điều 25
Xem xét định kỳ nơi nuôi dưỡng
Không được lãng quên, bỏ rơi những trẻ em đang được nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế tại các gia đình và các tổ chức xã hội.
Những trẻ em này có quyền được nhà nước bố trí chăm sóc, bảo vệ, điều trị y tế và định kỳ xem xét việc thực hiện các quy định về việc đó của các cơ sở nuôi dưỡng.
Điều
26 Quyền được hưởng an sinh xã hội.
Trẻ em có quyền được hưởng các lợi ích từ an sinh xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội.
Quyền này được bảo đảm tuỳ theo hoàn cảnh của trẻ em của những người nuôi dưỡng trẻ em và nguồn lực hiện có của quốc gia.
Điều 27
Quyền có mức sống đầy đủ
Trẻ em có quyền có mức sống đủ để phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội.
Cha mẹ có trách nhiệm hàng đầu trong việc bảo đảm quyền này cho trẻ em. Nhà nước phải thi hành các biện pháp thích hợp để giúp đỡ các bậc cha mẹ thực hiện nghĩa vụ này.
Nhà nước phải có trách nhiệm thi hành những biện pháp thích hợp nhằm thu hồi chi phi nuôi nấng trẻ em từ cha mẹ hay những người có trách nhiệm khác ở trong nước hoặc nước ngoài.
Điều
28 Quyền được
học tập Các quốc gia thành viên phải bảo đảm giáo dục tiểu học là miễn phí và bắt buộc, khuyến khích phát triển các hình thức giáo dục trung học để mọi trẻ em đều có thể tiếp cận, thúc đẩy, khuyến khích hợp
Dự án SREM – Sổ tay quản trị hiệu quả trường học 112 Kỷ luật nhà trường phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của trẻ em.
Điều
29 Mục đích của
giáo dục Giáo dục phải nhằm phát triển nhân cách, tài năng, thể chất, trí tuệ của trẻ em, phát triển sự tôn trọng với cha mẹ, với bản sắc văn hoá, các giá trị của bản thân và của đất nước mình hoặc đất nước mà trẻ em đang sinh sống, chuẩn bị cho trẻ em có một cuộc sống tích cực ở độ tuổi người lớn trong một xã hội dân chủ, theo tinh thần hiểu biết, hoà bình, khoan dung, bình đẳng và hữu nghị giữa các dân tộc.
Điều 30
Quyền của trẻ em các cộng đồng thiểu số và bản địa
Trẻ em thuộc các cộng đồng thiểu số hoặc bản địa có quyền hưởng nền văn hoá, theo tôn giáo, sử dụng ngôn ngữ riêng của cộng đồng mình.
Điều
31 Quyền được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, sinh hoạt văn hoá
Trẻ em có quyền được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí và có cơ hội tham gia vào các hoạt động văn hoá, nghệ thuật một cách bình đẳng.
Điều 32
Quyền được bảo vệ khỏi sự bóc lột về kinh tế
Trẻ em có quyền được bảo vệ không phải làm những công việc nguy hiểm, có hại cho sức khoẻ, sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hay xã hội hoặc ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ.
Nhà nước phải áp dụng các biện pháp để bảo vệ quyền này của trẻ em, đặc biệt là ấn định tuổi tối thiểu cho việc tuyển dụng lao động, thời gian làm việc và điều kiện lao động cũng như các hình thức xử lý việc sử dụng lao động trẻ em.
Điều 33
Quyền được bảo vệ khỏi tác động của chất ma tuý
Các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp thích hợp để bảo vệ trẻ em khỏi việc sử dụng bất hợp pháp chất ma tuý và bị lôi kéo vào việc sản xuất, buôn bán trái phép chất ma tuý.
Các chất ma tuý được hiểu là các chất kích thích đã bị cấm trong các hiệp ước quốc tế (không bao gồm rượu và thuốc lá)
Điều 34
Quyền được bảo vệ khỏi bị bóc lột, lạm dụng tình dục.
Các quốc gia thành viên phải bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột, lạm dụng tình dục, bao gồm việc lôi kéo, ép buộc trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục, bóc lột trẻ em trong mại dâm, sử dụng trẻ em trong biểu diễn hay tài liệu khiêu dâm.
Lạm dụng tình dục được hiểu là việc quan hệ tình dục với trẻ em khi còn quá trẻ và ngược lại với ý muốn của trẻ.
Khai thác tình dục được hiểu là việc sử dụng trẻ em trong hoạt động mại dâm, trong những buổi trình diễn hoặc trong các văn hoá phẩm khiêu dâm.
Điều
35 Quyền được bảo vệ chống bắt cóc và buôn bán.
Trẻ em có quyền được nhà nước bảo vệ chống bắt cóc, buôn bán vì bất kỳ mục đích gì, dưới bất kỳ hình thức nào như để làm con nuôi, để khai thác tình dục, khiêu dâm hay khai thác các bộ phận cơ thể.
Buôn bán trẻ em được hiểu là hình thức mua bán có tổ chức mà trẻ em là đối tượng bị đem trao đổi.
Bắt cóc trẻ em được hiểu là việc bắt và đưa trẻ em đi một cách bất hợp pháp nhằm các mục đích tống tiền, làm con nuôi, khai thác tình dục, khiêu dâm...
Điều 36
Bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột khác
Trẻ em phải được bảo vệ khỏi tất cả các hình thức bóc lột nào khác, ngoài các hình thức đã được đề cập trong các điều 32,33,34 và 35 của công ước này.