Chương I. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA HIỆU TRƯỞNG
I. Công ước quốc tế về quyền trẻ em
6. Các nhóm quyền trẻ em được thể hiện trong Công ước
Hệ thống các quyền trẻ em được thể hiện trong Công ước có thể được phân thành hai nhóm quyền chính. Đó là nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (theo cách phân nhóm các quyền con người). Tuy nhiên, do tính chất đặc thù về sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em nên các quyền trẻ em trong Công ước được phân thành 4 nhóm quyền. Bao gồm: nhóm quyền sống còn; nhóm quyền được bảo vệ; nhóm quyền được phát triển và nhóm quyền được tham gia.
Dự án SREM – Sổ tay quản trị hiệu quả trường học 114 Đó là bảo đảm quyền được sống và đáp ứng các nhu cầu cơ bản để tồn tại.
Do trẻ em là những cá thể còn non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần, không thể tự nuôi sống được bản thân nên trong Công ước bổ sung một khía cạnh mới vào khái niệm quyền được sống nhằm ngăn chặn các quốc gia có các hoạt động tuỳ tiện dẫn đến tước đoạt quyền sống của trẻ em. Điều 6 của Công ước yêu cầu các quốc gia đảm bảo ở mức cao nhất có thể sự sống còn và phát triển của trẻ. Khái niệm “bảo đảm sự sống còn” của trẻ em được mở rộng không chỉ bao gồm việc bảo đảm không bị tước đoạt về tính mạng, mà còn bao gồm việc đảm bảo cho trẻ em được cung cấp chất dinh dưỡng và sự chăm sóc y tế ở mức độ cao nhất. Điều này được hiểu là giảm tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh và trẻ em, cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu; giảm tình trạng suy dinh dưỡng; cung cấp nước sạch, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; đảm bảo mọi người đều có thông tin về sức khoẻ và xúc tiến các chiến lược y tế dự phòng và kế hoạch hoá gia đình.
Nhóm quyền sống còn bao gồm các điều sau đây:
Điều 6: Các quốc gia thành viên thừa nhận rằng mỗi trẻ em đều có quyền được sống.
Các quốc gia cần đảm bảo cho sự sống còn và phát triển của trẻ em ở mức cao nhất.
Điều 24: Quyền có sức khoẻ và được chăm sóc sức khoẻ
6.2. Nhóm quyền được bảo vệ.
Nhằm bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bị bỏ rơi và bị lạm dụng
Công ước thừa nhận sự cần thiết phải bảo vệ trẻ em khỏi các tình huống có thể làm giảm cơ hội sống còn và phát triển của trẻ em. Tuy nhiên, khái niệm “bảo vệ trẻ em” cũng không dừng lại ở việc ngăn ngừa những sự xâm hại về thể chất, tinh thần với trẻ mà còn bao gồm cả việc ngăn ngừa và khắc phục những điều kiện bất lợi đối với cuộc sống của trẻ em.
Toàn bộ Công ước về Quyền trẻ em quan tâm đến việc bảo vệ trẻ em khỏi:
- Mọi hình thức bị bỏ rơi: Bao gồm sự bỏ rơi của bố mẹ hoặc xã hội, tước đi sự chăm sóc sức khoẻ và giáo dục đối với trẻ.
- Các tình huống nguy hiểm và chiến tranh: Bao gồm những yếu tố có thể đe doạ khẩn cấp đối với sự sống còn và phát triển của trẻ em, như thảm hoạ do thiên nhiên hoặc con người gây ra. Trẻ em tị nạn, trẻ em sống trong bối cảnh xung đột vũ trang và trẻ em làm trái pháp luật được quy định có những biện pháp bảo vệ đặc biệt.
- Sự lạm dụng và bóc lột: Công ước cũng quy định việc phục hồi và tái hoà nhập cho trẻ em là nạn nhân của sự lạm dụng, bóc lột về kinh tế, tình dục và các hình thức khác. Công ước cũng nhấn mạnh các biện pháp bảo vệ trẻ em khỏi nạn bắt cóc, buôn bán.
- Mọi hình thức phân biệt đối xử: Công ước bảo vệ trẻ em gái, trẻ em tàn tật, trẻ em tị nạn, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em bản địa khỏi bất cứ hình thức phân biệt đối xử nào. Đối với trẻ em khuyết tật, có quyền được giáo dục hoà nhập có chất lượng ở các cấp học cơ sở trên cơ sở bình đẳng như những trẻ em khác trong cộng đồng mà các em đang sinh sống.
Đối với nhà trường, các thầy cô giáo có trách nhiệm bảo đảm quyền được bảo vệ của trẻ em, tránh tất cả những tác động xấu đến học sinh, thông qua biện pháp giáo dục, phát hiện và ngăn ngừa các hành vi xâm hại.
Giáo dục cho học sinh không được phép xâm hại thân thể, nhân phẩm tính mạng của bạn.
Khi phát hiện có các hành vi xâm hại đối với học sinh trong nhà trường, thầy cô giáo là người chịu trách nhiệm đầu tiên trong việc hướng dẫn, chỉ bảo và kịp thời xử lý hành vi vi phạm.
Thầy cô giáo phải là tấm gương trong việc tôn trọng quan điểm nhân cách của học sinh, không được xúc phạm, lăng mạ, xâm hại thân thể học sinh vì bất kỳ lý do gì; thầy cô giáo là người chịu trách nhiệm bảo đảm quyền được đối xử công bằng, bình đẳng của tất cả học sinh; đặc biệt
Dự án SREM – Sổ tay quản trị hiệu quả trường học 115 sống chung với HIV/AIDS4, trẻ em mồ côi, trẻ em vi phạm pháp luật…
Nhóm quyền này gồm các điều sau đây:
Điều 2: Không phân biệt đối xử;
Điều 7: Quyền có tên gọi và quốc tịch;
Điều 8: Quyền giữ gìn bản sắc;
Điều 10: Quyền được sum họp với gia đình;
Điều 11: Được bảo vệ khỏi sự chuyển giao trái phép và không trở lại;
Điều 16: Quyền có sự riêng tư;
Điều 19: Được bảo vệ khỏi sự bỏ rơi và lạm dụng;
Điều 20: Bảo vệ những trẻ em không có gia đình;
Điều 21: Quyền được nhận làm con nuôi;
Điều 22: Quyền của các trẻ em được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt;
Điều 23: Quyền được chăm sóc đặc biệt đối với trẻ em bị khuyết tật;
Điều 25: Quyền được định kỳ xét lại nơi trú ngụ;
Điều 30: Quyền của trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em bản xứ, được tham gia văn hoá, đi theo tôn giáo và nói tiếng nói của dân tộc mình;
Điều 32: Quyền được bảo vệ khỏi sự bóc lột về kinh tế;
Điều 33: Quyền được bảo vệ khỏi tệ nạn ma tuý;
Điều 34: Quyền được bảo vệ khỏi lạm dụng tình dục;
Điều 35: Quyền được bảo vệ khỏi sự mua bán, buôn lậu và bắt cóc;
Điều 36: Được bảo vệ khỏi các hình thức bóc lột khác;
Điều 37: Quyền không bị tra tấn, và tước quyền tự do;
Điều 38: Được bảo vệ khỏi xung đột vũ trang;
Điều 39: Quyền được chăm sóc phục hồi;
Điều 40: Quyền được xét xử công bằng.
6.3. Nhóm quyền được phát triển.
Là những nhu cầu cải thiện chất lượng cuộc sống, đảm bảo cho trẻ em phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần.
Công ước định nghĩa sự phát triển của trẻ em theo khái niệm rộng nhất. Đó là sự phát triển toàn diện không chỉ sự phát triển về thể chất, trí tuệ mà còn bao gồm cả các mặt về đạo đức, nhân cách. Cách tiếp cận này, đòi hỏi sự quan tâm rộng lớn của gia đình, nhà nước, nhà trường và toàn xã hội, có trách nhiệm chăm lo cho sự phát triển toàn diện của trẻ; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cần thiết cho sự phát triển của trẻ từ tiêu chuẩn sống tối thiểu như dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, vui chơi, giải trí đến an sinh xã hội…Chính vì vậy, tất cả những quyền của trẻ em có tác động đến quá trình phát triển của trẻ được xếp vào nhóm quyền được phát triển.
Đối với nhà trường, các thầy cô giáo bảo đảm quyền phát triển toàn diện của trẻ, có trách nhiệm giáo dục hoàn thiện nhân cách, phát triển về trí tuệ, đạo đức, tình cảm, bảo đảm cho học sinh được tham gia đầy đủ các hoạt động vui chơi, giải trí, các hoạt động ngoại khoá; thầy cô giáo phải tôn trọng và lắng nghe ý kiến của học sinh; phối hợp cùng với gia đình thực hiện tốt quyền phát triển của trẻ em…
Nhóm quyền này bao gồm các điều sau đây:
4 Một điểm chú ý, Công ước quốc tế về quyền trẻ em chưa đề cập tới nhóm đối tượng trẻ em nhiễm HIV/AIDS, do thời điểm ban hành Công ước, đại dịch HIV/AIDS chưa phát triển và ảnh hưởng nhiều đến trẻ em. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật quốc tế sau này, đã bổ sung nhiều quy định bảo đảm quyền của trẻ em sống chung với HIV/AIDS. Theo đó trẻ em có HIV/AIDS có đầy đủ các quyền con người như mọi trẻ em khác. Các em có quyền tiếp cận giáo dục, học tập sinh hoạt, vui chơi giải trí, hoà nhập cộng đồng, được đối xử bình đẳng...Và vì vậy, mọi hình vi kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em có HIV/AIDS là vi phạm quyền của trẻ em.
Dự án SREM – Sổ tay quản trị hiệu quả trường học 116 Điều 6: Quyền sống và phát triển;
Điều 7: Quyền có tên gọi và quốc tịch;
Điều 9: Quyền được sống chung với cha mẹ;
Điều 10: Quyền được sum họp với gia đình;
Điều 11: Được bảo vệ khỏi bị chuyển giao trái phép và không trở lại;
Điều 12: Quyền được tôn trọng quan điểm;
Điều 13: Quyền tự do biểu đạt;
Điều 14: Quyền tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo;
Điều 15: Tự do hội họp;
Điều 17: Quyền được tiếp cận với những thông tin phù hợp;
Điều 24: Quyền có sức khoẻ và được chăm sóc sức khoẻ;
Điều 26: Quyền an sinh xã hội;
Điều 27: Quyền có mức sống ngày càng cao;
Điều 28 & 29 - Quyền được giáo dục;
Điều 31: Quyền được nghỉ ngơi và giải trí;
Điều 32: Quyền được tham gia các hoạt động văn hoá.
6.4. Nhóm quyền được tham gia.
Đó là những quyền cho phép trẻ em tham dự vào những công việc ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng.
Công ước công nhận trẻ em có quyền được có quan điểm riêng, bày tỏ quan điểm, ý kiến riêng về các vấn đề có liên quan đến chúng. Sự tham gia của trẻ em sẽ cho phép trẻ em hiểu được hoàn cảnh của mình và phát triển các kỹ năng xã hội, kỹ năng sống; từ đó sẽ có trách nhiệm đối với xã hội, cộng đồng và điều quan trọng là giúp các em tự khẳng định mình.
Một trong các lý do quan trọng bảo đảm quyền tham gia của trẻ em chính là xuất phát từ quan điểm: Quyền tham gia của trẻ em là một quyền con người cơ bản. Đó vừa là nhu cầu để phát triển và hoàn thiện nhân cách con người, vừa là điều kiện để xây dựng, tạo lập một xã hội lành mạnh, tự do, dân chủ trong tương lai; đồng thời quyền tham gia của trẻ em cũng chính là một cách để cải tiến chất lượng các dịch vụ cung cấp cho trẻ em.
Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, sự tham gia của trẻ em là một quá trình, từ thấp đến cao, từ phụ thuộc, cần hướng dẫn, chỉ bảo, gợi ý của người lớn đến tự quyết định các vấn đề liên quan đến cuộc sống. Vì thế vai trò của người lớn là rất quan trọng. Người lớn có thể gợi ý và giúp đỡ trẻ em thực hiện quyền tham gia, phù hợp với từng lứa tuổi của các em; và điều quan trọng, người lớn cần phải lắng nghe tiếng nói của trẻ em. Và để bảo đảm thực hiện tốt quyền tham gia của trẻ em, cần có các yếu tố như:
Một là, cần có môi trường thuận lợi, nghĩa là có cơ chế và hình thức khác nhau đảm bảo cho trẻ em được can dự vào tất cả các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của chúng. Để có môi trường thuận lợi, đòi hỏi nhà trường, các thày cô giáo phải là những người tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em; kể cả thái độ đối xử của thầy cô giáo đối với học sinh; phải tôn trọng việc tự do bày tỏ ý kiến của học sinh. Các hình thức tạo điều kiện cho học sinh bày tỏ quan điểm, có thể thông qua các diễn đàn, các cuộc thi, triển lãm tranh, ảnh, sách, thi viết báo tường, trại hè, phát biểu, thảo luận tại lớp học....và,
Hai là, cần nâng cao năng lực cho trẻ thông qua việc trang bị kỹ năng tham gia, cung cấp thông tin cho trẻ, thông báo để các em hiểu được về quyền và nghĩa vụ, thông qua bài giảng, học tập, sinh hoạt và huấn luyện cho trẻ để giúp các em tự tin hơn và chủ động giải quyết những vấn đề có liên quan đến chính cuộc sống của các em.
Nhóm quyền này bao gồm các điều sau đây:
Điều 12: Quyền của trẻ em có khả năng có quan điểm riêng, được tự do bày tỏ những
Dự án SREM – Sổ tay quản trị hiệu quả trường học 117 này được cân nhắc tuỳ thuộc vào lứa tuổi và sự chín chắn của chúng;
Điều 13: Tự do biểu đạt;
Điều 15: Tự do tín ngưỡng;
Điều 17: Quyền được tiếp cận thông tin phù hợp;
Điều 18: Cha mẹ chịu trách nhiệm chính trong việc nuôi dạy con cái. Chính phủ cần giúp đỡ họ trong việc này. Lợi ích tốt nhất của trẻ em sẽ là những mối quan tâm chủ yếu của họ.