Xác định bệnh thường gặp do vi khuẩn

Một phần của tài liệu Giáo trình MĐ05 phòng trị bệnh cá diêu hồng cá rô phi (Trang 77 - 82)

+ Bệnh đốm đỏ + Bệnh lở loét + Bệnh mất nhớt

- Phương pháp chẩn đoán nhanh bệnh vi khuẩn tại ao nuôi là:

+ Quan sát hoạt động bơi lội, hoạt động ăn của cá.

+ Quan sát các dấu hiệu bệnh bên ngoài của cá như: da, vây, bụng…

+ Mổ cá quan sát các dấu hiệu bệnh lý bên trong: gan, ruột…

2.1. Bệnh đốm đỏ, xuất huyết

- Cá nuôi lồng, bè và nuôi ao, hồ đều có thể bị bệnh đốm đỏ do vi khuẩn có tên khoa học là Aeromonas gây ra.

- Bệnh đốm đỏ có thể gây tỷ lệ chết ở cá từ 30-70% đàn cá nuôi.

- Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường tập trung vào mùa mưa ở miền Nam.

* Dấu hiệu bệnh lý

Cá bị bệnh đốm đỏ thường có các dấu hiệu sau:

- Cá kém ăn hoặc bỏ ăn;

- Cá bệnh bơi lờ đờ trên tầng mặt;

- Da cá màu tối, mất nhớt khô ráp;

- Xuất hiện các đốm đỏ trên thân (hình 5.6.1);

- Bụng sưng, hậu môn sưng đỏ. (hình 5.6.2);

- Khi cá bệnh nặng có biểu hiện hoại tử da và cơ;

- Mổ cá kiểm tra thấy nhiều dịch màu hồng trong bụng cá. Các cơ quan nội tạng bị xuất huyết và viêm nhũn (hình 5.6.3).

Hình 5.6.1. Các đốm đỏ trên thân

Hình 5.6.2. Bụng, hậu môn sưng

Hình 5.6.3.Cơ quan nội tạng bị uất huyết

* Tác nhân gây bệnh

- Do nhóm vi khuẩn Aeromonas spp, Pseudomonas spp di động gây ra.

Hình 5.6.4. Vi khuẩn Aeromonas Hình 5.6.5. Vi khuẩn Pseudomonas

* Biện pháp và loại thuốc trị bệnh:

Khi phát hiện cá có các dấu hiệu của 2 loại bệnh trên cần áp dụng các biện pháp trị bệnh như sau:

- Cải thiện nước ao nuôi: Thay bằng nước sạch 20-30% nước ao, nên thay nước tầng đáy.

- Xử lý nước ao bằng chất diệt khuẩn: cholorin, formol, BKC (Benzalkoium Chloride), iodine, vikon A... Liều sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

- Cho cá ăn thuốc kháng sinh: trộn kháng sinh vào thức ăn đúng liều lượng hướng dẫn. Cho cá ăn liên tục từ 5-7 ngày, từ ngày thứ 2 trở đi liều lượng giảm đi 1/2 so vớí ngày ban đầu.

- Ở các tỉnh phía Bắc có thể sử dụng KN-04-12: liều dùng 2-4 g/kg cá/ngày được bào chế từ thảo mộc có tác dụng diệt khuẩn. Cho cá ăn liên tục 6 – 10 ngày

- Tăng sức để kháng cho cá nuôi: trộn vitamin C vào thức ăn.

* Một số thuốc kháng sinh trị bệnh vi khuẩn:

+ Oxytetracylin: 55-77 mg/kg thể trọng cá nuôi, cho ăn 7-10 ngày.

+ Streptomycin: 50-75 mg/kg thể trọng cá nuôi, cho ăn 5-7 ngày.

+ Kanamycin: 50 mg/kg thể trọng cá nuôi, cho ăn 7 ngày.

+ Nhóm Sulfamid: 50-100 mg/kg cá/ ngày, sử dụng liên tục 5-7 ngày.

+Rifamyxin: Cho cá ăn 50-100mg/kg cá/ngày, sử dụng liên tục 5-7 ngày.

+ Neoomycine: 4g/100kg cá bệnh/ ngày.

2.2. Bệnh nổ mắt, đục mắt

* Dấu hiệu bệnh lý

Cá có dấu hiệu hôn mê, mất phương hướng bơi lội. Vùng mắt bị thương tổn như viêm mắt, lồi mắt, chảy máu mắt

Xuất hiện các vết lở loét xuất huyết không lành ở quanh mắt, các gốc vây hoặc những vùng da hơi đỏ xung quanh hậu môn, sinh dục của cá

Có dịch chất lỏng trong bụng cá chảy ra hậu môn (dấu hiệu của dịch bệnh ở thời kỳ cấp tính)

Cá bỏ ăn, kiểm tra không thấy thức ăn trong dạ dày hoặc ruột của cá bị bệnh, quan sát thấy túi mật to

Gan, thận, lá lách, tim, ống ruột bị xuất huyết. Lá lách và thận bị trương lên và sưng nhẹ

Hình 5.6.6. Bệnh nổ mắt, đục mắt

* Tác nhân gây bệnh

Do vi khuẩn Steptococcus gây ra.

Vi khuẩn này phát triển mạnh ở môi trường có nhiệt độ nước 20 – 30oC.

Hình 5.6.7. Vi khuẩn Streptococcus

* Biện pháp và loại thuốc trị bệnh:

- Xử lý nước bằng chất diệt khuẩn: Vikon A 0,7kg/1000m3 nước ao hoặc cho vào các túi vải, treo xung quanh lồng bè nuôi để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh

- Tăng hàm lượng oxy bằng quạt nước

-Nên cắt giảm một phần thức ăn, giảm mật độ nuôi sẽ giảm bớt căng thẳng và mức độ lây lan bệnh đến cá. Lập tức vớt bỏ số cá chết ra khỏi ao, lồng, bè nuôi

- Điều trị ngay bằng kháng sinh Osamet Fish (hoặc Fortoca) liều 5 – 10g trong 1 kg thức ăn (hoặc cho 2 – 3 tấn cá nuôi), cho ăn liên tục trong 7 – 10 ngày

- Điều trị bệnh giai đọan sớm hiệu quả điều trị sẽ rất cao.

2.3 Bệnh thối mang, mang đóng bùn

* Dấu hiệu bệnh lý

Cá bệnh có dấu hiệu bơi tách đàn, bơi lờ đờ trên mặt nước, khả năng bắt mồi giảm đến ngừng ăn

Các tơ mang cá bị thối nát, ăn mòn, rách nát, xuất huyết, thối rữa và có lớp bùn dính rất nhiều

Bề mặt xương nắp mang bị xuất huyết, ăn mòn và có hình dạng không bình thường

Hình 5.6.8. Bệnh thối mang

2.3.2. Tác nhân gây bệnh

Do vi khuẩn Myxococcus piscicolas gây ra. Vi khuẩn này phát triển mạnh ở môi trường có độ pH = 6,5 – 7,5, nhiệt độ nước 25 – 35oC.

Hình 5.6.9. Vi khuẩn Myxococcus piscicola

* Biện pháp và loại thuốc trị bệnh:

- Thay nước ao để giữ môi trường trong sạch

- Thường xuyên vệ sinh thành lồng bè để đảm bảo lưu tốc dòng nước chảy cho phù hợp

- Xử lý nước ao bằng chất diệt khuẩn: vikon A 0,7kg/1000m3 nước ao hoặc cho vào các túi vải, treo xung quanh lồng bè nuôi để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh

- Khi phát hiện bệnh sớm cần phải điều trị ngay bằng kháng sinh BayMet liều 5 – 10 gram trong 1kg thức ăn, cho ăn liên tục trong 7 – 10 ngày.

Một phần của tài liệu Giáo trình MĐ05 phòng trị bệnh cá diêu hồng cá rô phi (Trang 77 - 82)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(104 trang)