PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
4.1 Kết quả điều tra
4.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa phương 4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xó Yờn Lóng là một xã thuộc vùng trung du và miền núi phía bắc, là xã cuối cùng trên quốc lộ 3 từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang. Phớa bắc giáp với tỉnh Tuyên Quang phớa tõy là vùng tiếp giáp chõn núi Tam Đảo với địa hình chủ yếu là đồi núi chiếm tới 70% diện tích tự nhiên. Đất tự nhiên của xã là 3802 ha trong đó diện tích đất lõm nghiệp chiếm phần lớn với trên 1500 ha, cũn lại là đất nông nghiệp và nhà ở. Đất nông nghiệp của cả xã phõn bố không đều trên toàn xã, chủ yếu là một vài khu vực bằng phẳng nhỏ hẹp quanh các chõn núi và vùng trung tõm phớa nam của xã, ngoài ra các vùng ven chõn núi và các vùng biệt lập sõu trong núi lại có diện tích đất trồng trọt rất lớn. Là vùng chõn núi lên xã yên lóng cũn là nơi bắt đầu của nhiều các dòng suối cung cấp nước cho canh tác nông nghiệp các xã trong khu vực.
Xã Yên Lóng là một xã giàu tài nguyên khoáng sản như sắt, thiếc… trong đó nhiều nhất là than, xí nghiệp than núi Hồng hình thành và phát triển từ sớm đã có những đóng góp đáng kể và sự phát triển cả xã.
4.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã Yên Lóng là một xã hình thành từ lõu với nền kinh tế ban đầu chủ yếu là nông nghiệp. Hiện nay với dõn số khoảng 1200 người với gần 3000 hộ dõn, hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, trong đó dõn số nông nghiệp chiếm tới 80% dõn số cả xã, cũn lại là công nhõn viên chức và các hoạt động dịch vụ.
Diện tích trải rộng với nhiều địa hình khác nhau nên dõn cư phõn bố không đồng đều tập chung chủ yếu ở các vùng trũng thấp tạo nên một khu trung tâm đông đúc với hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực dich vụ.
Hiện nay nền kinh tế của xã đa dạng với nhiều hình thức và quy mô khác nhau từ sản xuất nông lõm nghiệp, khai thác khoáng sản đến các hoạt động dịch vụ đã hình thành nên một trung tõm thông thương trên con đường từ các tỉnh Việt Bắc về thành phố Thái Nguyên. Tuy nhiên hiện nay dõn số hoạt động trong lĩnh vực nông lõm nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ lớn. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp hàng năm đóng góp tới 60% tổng thu nhập của cả xã.
4.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp và sản xuất sắn 4.1.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Là một xã thuần nông nhưng diện tích canh tác lại chủ yếu là đồi núi nên từ lõu nông nghiệp của xã chủ yếu là canh tác cõy trồng cạn ở trên đồi, ven các chõn núi. Chiếm một lượng dõn cư khá lớn nhưng lại phân bố rải rác ở nhiều khu vực với địa hình chủ yếu là đồi núi nên diện tích bình quõn đầu người sản xuất nông nghiệp tương đối cao (trung bình 0.25 ha/người).
Với đặc điểm nông nghiệp bị chi phối bởi địa hình nên hoạt động nông nghiệp diễn ra chủ yếu là quảng canh mang tớnh đặc trưng. Diện tích đất canh tác cõy trồng nước chỉ chiếm khoảng trên 30% đất nông nghiệp với tớnh thời vụ với những cõy trồng và nông sản như lúa, ngô, khoai, hoa màu…
Dõn cư sản xuõt nông nghiệp chủ yếu là phõn bố trong các địa bàn với địa hình là đồi núi nên canh tác chủ yếu là cõy trồng cạn như chè, sắn… Với diện tích đất dốc lớn đõy là một điều kiện quan trọng để phát triển nông nghiệp theo hướng chuyên canh tạo nên một vùng nông nghiệp đặc trưng.
4.1.2.2 Tình hình sản xuất sắn
Một trong những loại nông sản chủ yếu chiếm vị trí quan trọng trong đời sống người dõn nông nghiệp ở các vùng này là cõy sắn. Cõy sắn được canh tác từ lõu và đã chở thành một vùng chuyên canh truyền thống. Tớnh riêng diện tích canh tác sắn của xã chiếm tới 12% diện tích đất tự nhiên và hơn 30% diện tích đất nông nghiệp. Hàng năm diện tích canh tác sắn không ngừng tăng nhanh và cung cấp một lượng sắn lớn cho chăn nuôi tại địa phương và không những thế sắn cũn chở thành một hàng hoá trọng điểm mang lại thu nhập cho người dõn trồng sắn. Với diện tích trên 325 ha canh tác sắn với sản lượng trên 4000 tấn hàng năm cung cấp cho chăn nuôi tại địa phương (30%) cũn lại được làm lương thực ăn tươi và trở thành hàng hoá (60%). Hàng năm sắn được chế biến dưới dạng sắn khô để thuận tiện cho bảo quản và bán trên thị trường. Tuy nhiên theo đánh giá nhận định hiện nay thì quá trình canh tác sắn ở đõy vẫn cũn lạc hậu, quá trình áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũn chậm và chưa đồng bộ.
Đặc biệt là khõu chế biến sắn, chủ yếu là làm thủ công tuy đã có những cải tiến nhưng năng xuất cũn rất thấp, lóng phí lớn.
4.1.3 Nhu cầu thực tế về mỏy thỏi sắn
Diện tích và sản lượng sắn hàng năm của xã không ngừng tăn. Vấn đế đặt ra không chỉ phát triển các lĩnh vực chăn nuôi, đẩy mạnh các hoạt động tỡm kiếm thị trường mà đi đôi với nó là phải đẩy mạnh công tác chế biến sau thu
hoạch. Có như vậy mới đảm bảo một nguồn sắn ổn định và chất lượng đáp ứng được yêu cầu.
Bảng 5: Diện tích và sản lượng sắn qua các năm
Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
1997 122 982
2003 134 1366
2005 207 2336
2004 203 1800
2005 256 3884
2010 325 4650
Sắn canh tác trên một diện tích lớn riêng xã Yên Lóng là 325 ha chiếm tới 30% diện tích đất nông nghiệp của cả xã với hơn 100 hộ canh tác và coi cõy sắn là cõy chủ đạo trong sản xuất. Hiện nay năng xuất sắn là khoảng 14 tấn/ha, với quy mô và sản lượng như vậy xã Yên Lóng đã sớm hình thành một khu vực sản xuất hàng hoá lớn và một trong những sản phẩm chớnh đó là sắn lát khô. Sắn lát khô không những chở thành hàng hoá (60%) mà cũn nhằm phục vụ sản xuất chăn nuôi (30%) ngay tại khu vực.
Hiện nay công tác chế biến sắn của xó cú hai phương thức chủ yếu đó là:
- Sắn được thỏi lỏt hoặc thỏi ruụi rồi đem phơi khô dưới nắng, và sau đó đem vào bảo quản trong bao hoặc đem nghiền thành bột sắn để phục vụ chăn nuôi ngay trong nông hộ. Với cách chế biến sắn kiểu này thông thường năng xuất không cao, sắn thành phẩm chất lượng không đồng đều và gây lãng phí lớn.
Các yếu tố chớnh trong quá trình chế biến là:
Sắn đem thái lát bằng tay hoặc ở một số nơi sử dụng công cụ thái quay tay với cách thức này năng xuất rất thấp chỉ khoảng 2 đến 3 tạ/h với quy mô sản xuất hiện nay thì không cũn phù hợp (20 đến 25 tấn/vụ/hộ) sắn là loại nông sản khó bảo quản tươi nên cần phải rút ngắn thời gian cho chế biến để đảm bảo chất lượng của sắn thương phẩm.
Sắn thái lát bằng tay chất lượng không đồng đều về kích thước điều đó có sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự đồng đều về độ ẩm khi phơi. Sự ảnh hưởng do không đồng đều về độ ẩm của các lát sắn là các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo quản cũng như sắn khi sử dụng.
Công tác chế biến thủ công trong thái lát sắn gõy lóng phí lớn, dù là thái tay hay sử dụng các công cụ thủ công thì thái sắn cũng không thể triệt để, thông
thường sắn thái đến cuối sẽ bị bỏ đi một khoảng 2 đến 3 cm do quá trình thái cần có sự an toàn cho người lao đông.
- Sắn được cắt khúc khoảng 10 đến 15 cm rồi đem sấy khô, đây chỉ là cách chế biến sắn mang tính thị trường do sắn khi sấy sẽ không đưa hết độ ẩm ra ngoài nờn cú khối lượng lớn hơn sắn lỏt khụ bỏn sẽ có lợi hơn cho người chế biến sắn. Không nhưng không về chất lượng, không thực sự đảm bảo yêu cầu của sản xuất về sau mà còn gõy mất mát lớn cho thu nhập của người dân trồng sắn.
Xét trong tình hình hiện nay để phát triển xã trở thành một vùng sản xuất sắn hàng hoá đảm bảo cả về chất lượng và số lượng thì vấn đề cốt lõi là phải nâng cao năng xuất và chất lượng cho khâu chế biến sắn. Để làm được như vậy thì cần phải áp dụng các công cụ cải tiến các máy móc cơ giới cho từng khâu từng giai đoạn trong công tác chế biến sắn. Ở đây vần đề chính là phải có một mỏy thái sắn có năng xuất khoảng 1 đến 3 tấn/h sử dụng cho từng hộ gia đình sản xuất sắn.