Sản lƣợng sữa và chất lƣợng sữa của một số giống bò cao sản đang đƣợc sử dụng ở nước ta:
Số TT Giống bò Sản lƣợng sữa kg/chu kỳ Chất béo % Chu kỳ vắt sữa
1 Hostein Friensian (Bò Hà Lan) F1
F2 F3
6000 - - -
5000 2700 3000-3600 3900-4200
- -
270-300 - -
2 Jersey 4500-5000 - 4.5-5.4 -
3 Nâu, Thụy Sỹ 5500-6000 - - -
4 Sahiwal 1100-3100 4-5 290-390
5 Redsinhi 680-2300 - 4-5 270-400
6 Lai sind 2000 240-270
Bảng 1.8. Sản lượng sữa của một số gióng bò đang nuôi ở nước ta
Đối với giống bò sữa khác nhau có sự khác nhau về sản lƣợng sữa, thành phần và một số tính chất lý hoá của sữa cũng khác nhau. Giống bò Holstein Frize nuôi tại nông trường Mộc Châu có tỷ lệ mỡ đạt 3,4-3,8% và tỷ lệ protit 3,32%. Giống bò lai Sind (Phù Đổng) có tỷ lệ mỡ 5,89% và protit đạt 3,47%. Con lai F1 (1/2HL) có tỷ lệ mỡ 4,83% và tỷ lệ protit đạt 3,37%. Tỷ lệ mỡ và protit trong sữa thay đổi theo tuổi của bò. Ví dụ, ở bò cái giống Laroslabski, mỗi lứa đẻ tỷ lệ mỡ giảm đi 0,01%, còn ở bò cái Kolmohorski giảm đi 0,017%.
Về cơ cấu giống bò ở nước ta hiện nay chủ yếu là bò lai Hostein Friensia (HF), chiếm tới 95% tổng số đàn bò sữa còn lại 95% giống bò HF thuần chủng. Trong 5
năm (1999-2000) năng suất sữa bình quân tăng từ 2330kg/chu kỳ lên đến 3300 kg /chu kỳ. Riêng sản lƣợng trung bình ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là 3720kg/chukỳ, một số ít có thể đạt 4500-5000kg/chu kỳ. Cá biệt có những con bò lai đạt kỷ lục 6000-7000kg/chu kỳ.
2. Chu kỳ vắt sữa
Hình 1.8, mô tả sự thay đổi thành phần của sữa trong chu kỳ vắt sữa
Chu kỳ vắt sữa của bò kéo dài trung bình khoảng 300 ngày. Thành phần sữa thường thay đổi trong một chu kỳ vắt sữa và ngay cả trong một lần vắt sữa. Tỷ lệ mỡ cao ở đầu kỳ cho sữa, sau đó giảm đi theo lƣợng sữa tăng lên. Trong cùng một lần vắt sữa, những giọt sữa cuối cùng thường chứa nhiều mỡ hơn, vì các hạt mỡ từ tuyến bào đi xuống do tác dụng co bóp của oxytoxin. Hàm lượng protit cũng tương tự nhƣ mỡ.
Sữa đầu có màu vàng tối, dễ bị đông tụ khi gia nhiệt do chứa nhiều abumin và globumin, hàm lƣợng muối khoáng cao, lactoza thấp. Trong sữa đầu có chứa nhiều chất miễn dịch và các licoxit có tác dụng bảo vệ cơ thể bê con. Trong công nghiệp chế biến người ta không sử dụng sữa đầu.
Thành phần của sữa đầu thay đổi rất nhanh trong lần vắt sữa sau. Tuy nhiên, trong các lần vắt sữa tiếp theo nếu đảm bảo các yếu tố về thức ăn, điều kiện khác thì thành phần của sữa tương đối ổn định.
3. Thức ăn
Thành phần sữa phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ dinh dƣỡng của khẩu phần thức ăn. Khi khẩu phần thức ăn không cân đối, đặc biệt là thiếu protein thường dẫn tới giảm thấp hàm lƣợng chất khô nhƣ: mỡ, protit và các thành phần khác trong sữa.
Theo tài liệu nghiên cứu của Viện chăn nuôi Liên Xô (cũ), bò cái lứa 1 nuôi dƣỡng không đầy đủ chỉ thu đƣợc 3632kg sữa với tỷ lệ mỡ 3,06%, cùng trong thời gian đó, nhóm bò cái đƣợc nuôi dƣỡng đầy đủ đã thu đƣợc 4016kg sữa với tỷ lệ mỡ 3,26%.
Khi giảm thấp lƣợng cỏ khô trong khẩu phần thức ăn, tỷ lệ mỡ trong sữa giảm thấp. Các chất khoáng nhƣ: phospho, canxi, iot, kẽm, coban và các chất khác sẽ có tác dụng tốt đến sản lƣợng sữa và tỷ lệ mỡ trong sữa. Nếu bổ sung khoảng 2mg vitamin E vào khẩu phần thức ăn cho bò cái cũng sẽ nâng cao đƣợc tỷ lệ mỡ sữa.
Hiện nay, việc áp dụng các thành tựu sinh học vào chăn nuôi bò sữa đã đem lại kết quả khả quan. Các chế phẩm nói chung đều giúp bò tiêu hoá tốt, tăng sản lƣợng của sữa và chất lƣợng của sữa. Ví dụ: Chế phẩm BST (Bovin Somatotropine) khi tiêm vào bò ở thời điểm 60-80 ngày sau ngày sinh sẽ có tác dụng tăng khả năng tiết sữa, nhờ đó đã làm tăng 10-20% sản lƣợng sữa. Chế phẩm enzim Feedadd NC 3 có
bổ xung vitamin B, D có tác dụng tăng sự hấp thụ thức ăn, tăng năng suất sữa ngăn ngừa cho bò cái các bệnh do thiếu canxi và vitamin B.
4. Điều kiện môi trường
Một vài thành phần của sữa có xu hướng tăng khi nhiệt độ và độ ẩm môi trường môi trường tăng, ví dụ: nitơ-phibrotein, palmetic và stearic axit. Còn các thành phần khác có xu hướng giảm thấp, ví dụ: mỡ sữa, chất khô đã tách mỡ, nitrogen tổng số, lactoza, axit béo mạch ngắn và oleic axit. Tỷ lệ % mỡ giảm trong điều kiện môi trường từ 21-27oC. Khi nhiệt độ tăng hơn 27oC, tỷ lệ mỡ có xu hướng tăng, trong khi đó chất khô trong sữa đã tách mỡ luôn giảm thấp. Nhiệt độ cao cũng làm giảm axit citric và canxi trong giai đoạn đầu cho sữa.
5. Tình trạng sức khoẻ
Khi bò bị ốm thì thành phần và sản lƣợng sữa biến đổi một cách rõ rệt. Đặc biệt là các bệnh đường ruột, sản lượng sữa giảm hẳn, thậm chí ngừng hẳn.
Bò bị bênh lao thì lƣợng lactoza giảm đáng kể thậm chí có thể mất hoàn toàn, chất béo giảm 1%, protein tăng 5-7 % do tăng lƣợng lactoalbumin và lactoglobumin. Vi khuẩn lao tồn tại kéo dài trong sữa thậm chí sau khi lên men. Ví dụ trong sữa chua vi khuẩn lao có thể tồn tại từ 18-21 ngày, trong bơ 3 tuần, pho mát 1-6 tháng. Khi bò bị bệnh xẩy thai hoặc bệnh mãn tính có thể thải vi khuẩn brucella qua sữa. Việc bài thải vi khuẩn qua sữa có thể kéo dài từ 7-8 năm. Lƣợng vi khuẩn thải qua sữa lớn nhất là vào những ngày đầu tiên sau khi sẩy thai, chế độ xử lý nhiệt ở 600C trong 30 phút làm cho vi khuẩn này của sữa bị mất độc tính.
Trong sữa chƣa đun sôi brucella sống đƣợc 7-8 ngày, trong sữa chua là 9 ngày,...
Bệnh lở mồm long móng ở bò có thể làm cho sữa bị nhiễm vi rút này . ở 500C virut này bị tiêu diệt.
Bệnh than ở bò có thể làm cho sữa bị nhiễm trực khuẩn brucella anthracis. Sữa này bị bỏ đi.
Bò bị bệnh viêm vú thì hàm lƣợng chất béo, protein và muối khoáng tăng, lactoza giảm. ở thể nặng hàm lƣợng các thành phần bị giảm trừ protein do tăng lƣợng lactbumin và lactoglobulin.
Còn nhiều yếu tố khác nữa ảnh hưởng tới thành phần hoá học. Đó là điều kiện sống, tốc độ phát triển, đặc điểm sinh lý, phương pháp vắt sữa, khí hậu thời tiết,…
Khi bò bị đau ốm, thành phần và sản lượng sữa bị ảnh hưởng một cách đáng kể.
Vì vậy, việc phòng bệnh là rất quan trọng. Trong công tác phòng bệnh cần chú ý vệ sinh ăn uống, vệ sinh thân thể, vệ sinh chuồng trại đảm bảo vệ sinh khâu vắt sữa, tiêm phòng đầy đủ đúng quy định theo pháp lệnh thú y. Một bò sữa có năng suất tốt sẽ cho năng suất tối đa khi đƣợc nuôi dƣỡng tốt, khẩu phần dinh dƣỡng hợp lý, chuồng trại sạch sẽ.