Nước và điện giản khi khóe mạnh và mắc bệnh

Một phần của tài liệu NHUNG VAN DE CO BAN TRONG DINH DUONG LAM SANG (Trang 76 - 81)

Tài liệu tham khảo

2.7. Nước và điện giản khi khóe mạnh và mắc bệnh

L Sobotka, SP Allison, Z Stanga, DN Lobo : Muc tiéu

— Hiểu các khái niệm cơ bắn về chuyển hóa nước và điện giải.

~. Nhận biết các ảnh hưởng của chấn thương và nhiễm trùng lên sinh lý học điện giải và dịch.

— Hiểu hậu quả và điều trị mất dịch ngoài thận.

Giới thiệu

Nước và các chất điện giải là những thành phần tối cẳn thiết của môi trường bên trong cơ thể, tạo nên một môi trường bao quanh gần như tất cả tế bào và thông qua đó các chất chuyển hóa và khí di chuyển qua lại. Chúng cũng là những thành phân nội bào chính, chiếm 75% tế bào cơ nhưng chí khoảng 5% của tế bào mỡ. Gradient điện giải băng qua màng nhây tế bào và là điều kiện tiên quyết cho tính dễ bị kích động của tế bào, dẫn truyền tín hiệu, các chu tình vận chuyển và hoạt động tế bào. Các chất điện giải cũng có vai trò như những chất truyền tin thứ yếu, co- enzym hay có các chức năng cấu trúc. Đánh giá cân bằng dịch và điện giải không chỉ có nghĩa là sự tăng hay mất ngoại bào mà còn liên quan đến các thay đổi xây ra giữa các khoang dịch nội bào do bệnh lý gây ra.

2.7.1.Các khoang chứa nước và dịch

Từ Hình 2.7.1. có thể thấy tổng lượng nước của một người trưởng thành trung bình chiếm khoảng 60% thé trong‘? (ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có tỉ lệ cao hơn, và thấp hơn ở người béo phì). Có thể chia ra thành các khoang khác nhau:

—_ Nội bào (ICE) ~ 40% thể trọng.

—__ Ngoại bào (ECE) — 20% thể trọng.

Hai khoang được phân chia với nhau theo chức năng bởi màng tế bào, với bơm natri nhằm duy trì nai ở không gian ngoại bào với cấu trúc (hẩm thấu chính, đảm bảo mối tương quan không đổi giữa hai khoang. Kali được duy trì là cation nội bào chính bởi phần lớn các điện tích âm trên protein nội bào, các protein này không thể thoát ra khỏi tế bào ngoại trừ dưới đạng acid amin sau quá trình thủy phân protein. Chính vì vậy mà ở lình trạng dị hóa, kali thoát khỏi tế bào theo mức độ phân hủy protein.

Ngược lại trong quá trình đồng hóa, tế bào cung cấp kali và néng độ kali huyết tương có thể giảm trừ khi có sự cung cấp kali ngoại bào. Trong trường hợp bệnh cực kỳ nặng, sự bom natri có thể suy yếu, làm nỗng độ natri trong tế bào cao hơn bình thường. Tình trạng này được gọi là “hội chứng tế bào bệnh (sick-cell syndrome)”.

Khoảng không ngoại bào được phân chia tiếp tục thành phần trong mạch và ngoài

mạch được phân chia bởi màng mao mạch. Ở người khỏe mạnh, kích thước lỗ trong

Sinh lý học và hóa sinh học dinh dưỡng

_ 88 E€F-00% thẻ trọng F—†?> Hmh 274, cặc khoang dịch cơ thể và nồng độ”,

điện qe (Na* - Natri, K* - Kalf, TBW - tổng nước: -

Dòng dịch kế ICF ~ 40% thé trong | cơ thổ),

Na’ 140 mmol/l Na* 8 mmol K` 4 mmol K* 151 mmol/l

Mao mach Mang

Huyết tương ~ 5% | Tế bào hỗng cầu {The trong

(Albumin 40 g.!?

Cc ECF ~ 20% thé trong ic

màng mao mạch giới hạn tốc độ protein thoát khỏi huyết tương, do đó đảm bảo một sức ép khối u trong huyết tương cao hơn phần cồn lại của khoảng không ngoại bào và duy trì tính thống nhất của khối huyết tương. Thậm chí ở người khỏe mạnh vẫn mất albumin ít và từ từ, và được hoàn lại thông qua hệ thống bạch huyết vào hệ tuần hoàn. Tốc độ dòng albumin này gấp 10 lần so với tốc độ tổng hợp albumin hàng ngày, để tổng albumin trong mạch cứ mỗi 24 đến 48 giờ băng qua khoảng kẽ, Cytokine sinh ra do bệnh lý làm tăng kích thước của lỗ mao mạch, tại vị trí thương tổn và phổ biến hơn khi bệnh nặng, ví dụ như chấn thương, phỏng, phản ứng mẫn cẩm. Do đó làm vị trí này sưng tấy lên và làm mất khối huyết tương vào khoảng kẽ, cần phải thay thế dòng dịch phù hợp nhằm duy trì sự lưu thông tuần hoàn®?, Thành phần ngoài mạch của dịch ngoại bào được cha ra thành:

— Dich ké — 9 lit.

— Nước trong mô và sụn lién két - 3 lit,

— Nước trong xương — 3 lít.

— Nước qua tế bão (transcellular) — I lít (dịch trong cơ quan tiêu hóa và thận).

Trong những điểu kiện như liệt tắc tuột bay tắc nghẽn ruột, lượng dịch ngoại bào dư thừa có thể tích trữ trong ruột và chính vì vậy làm mất chức năng, cần phải thay thế nước và muối thích hợp bằng đường tĩnh mạch.

Các dòng dịch được phân phối dựa theo nồng độ. Dung dịch muối 0,9% bị hạn chế trong khoang ngoại bào bởi áp lực thẩm thấu của hàm lượng nati. Mỗi lít dung dịch

muối 0,9% chiếm I líL tổng khoang ngoại bào và được phân chia theo tỷ lệ giữa huyết tương (250 ml) và phần còn lại của khoang ngoại bào (750 ml) (Minh 2,7.1.), huyết tương chiếm tỷ lệ khoảng 1⁄4 tổng lượng dịch ngoại bào. Destrose 5% tương đương với nước tinh khiết, đo đó được phân phối sau khi glucose đã bị chuyển hóa nhanh chóng trong toàn bộ 42 lít nước cơ thể, di chuyển qua màng tế bào rất dễ dàng. Hiểu biết về

#

130 Những Vấn dé Co ban trong Dinh duéng Lam sang

sự phân phối khoang, đánh giá dòng chảy của dịch và điện giải hàng ngày qua cơ quan tiêu hóa và thận có thể có ý nghĩa lam sang quan trong.

2.7.2. Sự chảy của dòng dịch qua cơ quan tiêu hóa

Một lý do chính cho độ dài của cơ quan tiêu hóa là khả năng tái hấp thu một lượng lớn nước, natri và các chất điện giải khác tiết vào ruột. Từ Hình 2.7.2. có thể thấy hàng ngày có 9 lít địch chẩy qua phân trên ruột non, bao gồm cả đường miệng, và lượng nước bọt, mật, tụy và dịch ruột non tiết ra. Thể lích này giảm xuống còn l,5 lít khi đến van hồi manh tràng và còn 150 ml trong phân.

Sự hấp thu natri và cũng là hấp thu nước được tăng cường ở đoạn trên của ruột non do néng 46 natri hơn 90 mmol và do carbohydrate, trong khi ở ruột già được tăng lên bởi các acid béo mạch ngắn, sinh ra từ sự tiêu hóa chất xơ hòa tan của vi khuẩn. Nông độ khác nhau của các chất điện giải của cơ quan tiêu hóa được trình bày trong Bang 2.7.1. Việc đánh giá các thông tin này rất quan trọng để âm hiểu khả năng mất dịch và điện giải do nôn ói, tiêu chảy, rò, khí thở hay ứ đọng do tắc

ruột.

Uống 1,5-2 lít

Nước bọt 1,5 Hớt C——> <=—ơ Dịch dạ dày 1,5 lớt

Dịch tụy 2 lít => = Mat 4 tit

Tá tràng 8 lít

`

Hỗng-hồi trang 3 lit

NZ

Van hồi manh tràng 1,5 lít

`

Phân 0,15 lít

Hinh 2.7.2. Cân bằng dịch trung bình hàng ngày trong cơ quan tiêu hóa

Sinh lý học và hóa sinh học dinh dưỡng Ww

Bảng 2.7.1. Hàm lượng các chất điện giải trong dịch của cơ quan tiêu hóa (mmolll)

ch Kall {K+

Nước. 20

70-120 40

110-120

140 5

T 140 5

Tiêu chảy

—__ Chorala (người lớn) 120 15 80

— Chorela (trẻ em) 400 2T... wn OO _-.

= h lon 56 25 85

Hiểu được những thông tin trên rất quan trọng để chỉ định điều kiện nuôi ăn phù hợp cho những bệnh nhân này. Ví dụ như từ Bảng 2.6, có thể dự đoán được một bệnh nhân mất 2 lít dịch một ngày từ lỗ rò ruột non cần cung cấp hỗ trợ 2 lít nước, 220-240 mmol Na va 10-20 mmol Ka.

2.7.3. Vai trò của than

Thận lọc khoảng 125 ml dịch phi protein/phút, nhưng 124 ml/phút được tái hấp thu vào hệ thống ống trung tâm. “Thể tích nước tiểu bắt buộc” là lượng cân thiết để bài tiết các sản phẩm thải bỏ và duy trì hàm lượng urê và creatinine ở mức bình thường trong máu. Người khỏe mạnh bị mất nước có thể cô đặc gấp 100 lần giữa huyết tương và nước tiểu, vì vậy chí cân một lượng nước tiểu hàng ngày khoảng 500 mi để duy trì cân bằng nội môi. Tuy nhiên, người già và người bệnh có thể cần bài tiết hơn 1.000 ml nước tiểu hàng ngày để thực hiện cùng một chức năng”).

Nếu quá trình dị hóa protein tăng lên, lượng urê tăng kéo theo lượng nước tiểu thái ra cũng tăng. Thận cũng có thể điêu chỉnh bài tiết lượng natri quá mức. Thận đáp ứng với các thay đổi trong đồng máu, renin-angiotensin-aldoslerone, vasopressin (ADH) va natriuretic peptide (ANP) bằng cách tái hấp thu nước nhiều hơn và hầu như tất cả natri đã lọc trong đáp ứng với các trường hợp chấn thương, bệnh cấp tính, mất máu nhiễu hay giấm hiệu suất tim. Chính vì vậy mà những bệnh nhân này cho thấy có ứ dịch và nước gây phù trong giai đoạn cấp tính kèm theo khi truyền nước và natri. Thiếu natri cũng gây nguy hiểm. Mục tiêu là cân đạt được cân bằng để tránh cả tình trạng thiếu cũng như dư thừa bằng cách chỉ định chính xác và tâm soát cẩn thận!“®, :

So véi natri; khả năng điều chỉnh bài tiết kali của thận kém hơn. Bài tiết kali chủ yếu bằng sự trao đổi K chơ Na hay H trong ống ngoại biên. Vì vay thiếu K phan lớn liên quan với chứng nhiễm kiểm alkatosis, làm cho thận kém khả năng duy trì cation nay và thông qua đó tạo ra một vòng luẩn quần”).

132 Những Vấn đề Cơ bản trong Dinh dường Lâm sảng Hiểu biết về những thay đổi nguyên nhân sinh lý học trong cân bằng ngoài và sinh lý thận rất quan trọng để đưa ra chế độ ăn cho bệnh nhân nặng.

2.7.4. Cân bằng dịch ngoại bào

Bảng 2.7.2. mô tả cân bằng nước ngoại bào tiêu biểu ở người lớn khóc mạnh. Mặc dù biểu đổ cân bằng dịch trong bệnh viện có thể là một hướng dẫn hữu ích cho sự cân bằng dịch và ghi nhận các thay đổi từng ngày trong dịch bốc hơi hay mất qua lỗ rò hay nước tiểu, nhưng sau một tuần thường không chính xác và tích lũy sai số cao hơn”), Trong các đơn vị thận phương pháp xác định cân bằng nước tốt nhất trong thực hành là cân đều đặn. Mặt hạn chế khi dựa vào cân nặng là phương pháp đo này bao gồm cả dịch tổn trữ trong ruột hay các khoang khác của cơ thể và do đó không còn chức năng bình thường. Tuy nhiên, kết hợp giữa cân nặng, biểu đổ cân bằng dịch với khám lâm sàng bệnh cho phép điều chỉnh cân bằng dịch trong lâm sàng chính xác. Có thể cẩn phải tăng lượng nước hoặc kèm muối cung cấp khi bị mất nhiễu, hay cẩn phải giẩm khi suy thận giảm niệu, suy tìm hay các tình trạng phù khác.

Trong giai đoạn cấp tính của bệnh hiểm nghèo cẩn phải chăm sóc khi dịch bị tách ra trong khoang ngoại bảo (ví dụ như viêm tụy cấp, dịch bị tách ra vào khoang sau màng bụng hay khoang ngoại bào gây nên phi), Trong những trường hợp này sự thay thế dịch không hợp lý hay thậm chí hạn chế dịch có thể dẫn đến suy tuần hoàn và giảm dịch truyền mô. Chính vì vậy vẫn phải cung cấp dịch kể cả khi bị phủ để duy trì thể tích nội mạch và đòng máu. Đôi khi cÂn phải truyền hơn 10 lít dung dich 4 kim (crystalloid solution) (dung dịch Hartman, Ringer lactate,..) và dung dịch keo nhằm duy trì thể tích nội mạch, tuân hoàn hợp lý, tránh giảm dịch truyền mô và tiển suy thận. Mặt khác, đối với những bệnh nhân như vậy cũng rất dễ bị quá liều, và kỹ thuật lâm sàng nhằm đạt được sự thay thế hợp lý và tránh quá liều gây dư thừa dịch. Tham chi nếu một số quả tải khoang kế là cai giá để làm bệnh nhân tỉnh lại trong pha cấp, quan trọng là giảm cung cấp dịch ngay khi bệnh nhân hội phục từ pha shock và chuyên về trạng thái duy trì, cho phép bài tiết lượng dư thừa và khôi phục cân Bảng 2.7.2. Cân bằng nước ở người khỏe mạnh

Cung cắp. Dạng thải

Dịch tiêu hóa 2.100 ml Không ý thức ~ da 350 ml Dịch từ chuyển hóa 200ml Không ý thức ~ phổi 350 ml

Mé héi 100 ml

Phan 100 mt

Nước tiểu 1.400 ml

{ST ONG

Sinh by học và hỏa sinh hoc dinh dưỡn, 133

bằng dịch bình thường. Sự quá tải không cần thiết thường do các chế độ hồi sức dai hon can thiết.

Trong trường hợp bệnh nặng có thể cố gắng duy trì lượng nước tiểu thải Ta khoang 50-100 ml méi giờ, mặc dù sau phẫu thuật không phức tạp thì lượng nước tiểu thải ra cao như vậy không cần thiết để bài tiết phù hợp các sản phẩm thải, Cố gắng duy trì một cách mù quáng qui luật này trong thực hành phẫu thuật thông thường có thể dẫn đến dư thừa nước, muối không mong muốn và làm tăng tÿ lệ biến chứng. Cần nhắn mạnh rằng dư thừa muỗi và ứ nước có thể làm nặng thêm, các vận dé tim mach va hé hap và làm suy giảm chức năng thận? Chính vi vậy cần phải tiếp tục kiểm soat về mặt lâm sảng những bệnh nhân này và nên bắt đầu thay thế địch hay ngưng dịch cần thận (ngoài thân thể),

2.7.5. Ảnh hưởng của đói và chấn thương

Trong nghiên cứu nổi tiếng của Ancel Key và các cộng sựt” trên các nam tình nguyện viên trẻ trong tình trạng bán đói (semi-starvation) bị mất 23% thể trọng trong 24 tuần, đã cho thấy cho dù lượng mỡ và mô nạc bị mất thì thể tích dịch ngoại bào chỉ giấm nhẹ, và vì vậy tỷ lệ thể trọng tăng lên cao hơn. Những người này không dung nạp muối, nước thừa và phát triển thành tnh trạng đói phù. Tương tự ohu vay, Wilkinson’?! ya sau nay 1A Moore!” đã chỉ ra, dip ứng chuyển hóa với thương tổn có kèm với giữ nước và muối và không thể bài tiết lượng nước và muối dư thừa. Thật ra, Moore''° đặt ta thành ngữ các pha “giảm natri” và “bài niệu natri” khi chấn thương. Trong khi natri được duy trì, bài tiết kali tăng lên khi được giải phóng từ tế bào trong quá trình phân hủy chất đạm. Ngược lại, trong quá trình đồng hóa hay giai đoạn dưỡng bệnh, khi tế bào cần nitơ và tái tổng hợp protein, cần cung cấp nhu cầu kali nhiễu hơn nếu không sẽ dẫn đến tình trạng hạ kali máu.

Điểu này đặc biệt gây nhiều chú ý về vấn để hỗ trợ dinh dưỡng. Những thay đổi này được minh họa trong Hình 2.7.3. cho thấy sự giảm bài tiết natri khởi đầu nối tiếp theo bởi sự bài niệu tự nhiên ở các bệnh nhân bỏng mức độ vừa phải, trong Hình 2.7.4. cho thấy kết quả trong trường hợp bỏng có biến chứng nặng, natri trong đường niệu duy trì thấp cho dù vẫn có một cân bằng natri đương tính ít nhất khoáng 1.500 mmol. Ha natri máu có thể phần ảnh một tình trạng kết hợp giữa pha loãng và “tế bào bệnh (sick cells)”.

2.7.6. Các chất điện giải

Bang 2.7.3. trinh bày nồng độ bình thường của các khoáng chất và điện giải trong dịch nội và ngoại bào, cũng như hầm lượng trong toàn cơ thể của các nguyên tố nay, và hàm lượng cung cấp chất điện giải trung bình trong chế độ ăn. Những giá trị này có thể cẩn được điểu chỉnh theo tình trạng lâm sang, ví dụ như cần tăng lên khi bị mất nhiều qua đường ruột, hay gidm trong trường hợp suy thận hay xuất hiện sự quá tải,

134

44

Những Vấn đề Cơ bản trong Dinh dưỡng Lam sang

3.4,

36, No

Huyết tương (mmol!)

3.2

3 4 5

Ngày sau bỏng

145

140 a

136 |

130

125 (mmol-f") Huyết tương 120

3 4 5

ig dich nhập )

38 23

ge : 2

2 ¿ Ể

S125 | Me 180 Ê 100

= = a5

2 50

Boas

=o

Hình 2.7.3. Bệnh nhân A (26 tuổi, bóng 20%): các thay đối về huyết tương và các chất điện giải trang nước tiêu tiếp theo thương tồn bỏng nhọ với sự phục hồi và phát triển tự nhiên của gial đoạn bải niệu natrl

Ngày sau bỏng

Sinh lý học và hóa sinh học dinh dưỡng

Huyết tương (mmol.[”) ỉ SN bà h Ơn G

12 3 4 5678910 11 12 131415 1817 18 1820 2122 Ngày sau bỏng

3 5 2

123 4 56 7 6 910 11 12 1314151617 181920 2122

= Ngày sau bỏng

© 17.5

5 15

mm 125

ES 10

= 75 an 3 5

BB 25 š 0

8 25

= 5

2 75

2 123 4 6 67 6 9 10 11 12 1314151617 18 192021 22

- Ngày sau bỏng

1420 TK

— 1100 a

2 80 E ô 7M

2 BS 40 4

$ 20

z 0

H23 4 567 89 10 11 12 13 14 15 16 17 18 1920 21 22 Ngày sau bỏng

Hình 2.7.4. Bệnh nhân B (17 tuổi, bỏng 60%): các thay đổi điện và natrl máu tăng

trong nước tiêu tiếp thao bỏng nặng đe dọa tử vong. Mặc dù lượng natri cung cap nhiều nhưng natri vẫn giảm

136 Những Vấn để Cơ bản trong Dinh dưỡng Lâm sảng

Bảng 2.7.3. Nông độ các chất điện giải trong cơ thể người và trong chế độ ăn

Tổng trong cơ Cung cắp từ chế độ

Chất điện giải ECF (mmolil) ICF (mmol/l} thd (mmol) ăn (mmol/ngày)

Na 140-155 10-18 3.000-4.000 80-200

K 4,0-5,5 4120-145 3.000-3.500 50-150

Ca 25.000-27.000 20-60

Ca lon hóa 0,0001

Mg 15-25 900-1.200 10-20

ct 2-6 3.000-4.000 420-300

P. 8-20 30.000-32.000 20-50

Natri

- Như mô tả ở trên, natri là chất thẩm thấu và cation chính của khoang ngoại bào ECF. Toàn cơ thể có thể chứa đến 4.000 mmol Na, nhưng chỉ một nửa số này có thể trao đổi tự do. Hàng ngày có khoảng 22.400 mmol Na được lọc qua thận, 22.300 mmol được tái hấp thu trong ống thận. Đáp ứng với các thay đổi trong dòng và áp suất nội mạch, thận đáp ứng thông qua hệ thống renin-aldosterol, các nội tiết tố lợi tiểu nati, dopamine, prostaglandin và hệ thống thần kinh giao cảm nhằm điêu khiển lượng Na bài tiết ra và duy trì tình trạng ổn định trong dịch ngoại bào.

Suy dinh dưỡng và bệnh có thể làm thay đổi quá trình trao đổi natri của thận, Cân bằng natri có thể được xác định bằng phương pháp phức tạp đo hầm lượng natri của tất cá dịch mất và thẩm thấu. Tuy nhiên, một phương pháp khả thi hơn là kết hợp đo trọng lượng cơ thể hàng ngày để xác định cân bằng nước và nỗng độ natri huyết tương. Nếu thay đổi về hàm lượng nước xác định, khi đó thay đổi về hàm lượng natri có thể được suy ra bằng các thay đổi trong néng đô natri. Ngược lại, natri trong huyết tương không phản ảnh các thay đổi tổng lượng natri của cơ thể, và giống như các thay đổi bất thường trong cân bằng nước. Phương pháp này xóa bổ

“hội chứng tế bào bệnh” hay dự trữ dư thừa muối và nước trong ruột. Tuy nhiên một nhà lâm sầng kinh nghiệm nấm được những nguyên nhân sinh lý học cơ bản trong vấn để này có thể sử dụng phán đoán lâm sàng của mình. Lượng natri bài tiết trong nước tiểu đôi khi là cách xác định lượng thừa hay thiếu natri rất tốt, và đặc biệt đúng ở người khỏe mạnh. Tiếc thay, trong hầu hết các tình trạng bệnh điều này không đúng như mô tả ở trên.

Kali

Kali 1a cation chinh ctia dich néi bao, duy ti can bằng trao đổi protein âm tính trong tế bào. Kali huyết thanh thấp thường phần ảnh sự thiếu hut kali, đặc biệt nếu có kèm theo nhiễm kiểm (alkalosis), mặc dù lượng mất của toàn cơ thể có thể do tăng kali máu trong tình trạng dị hóa kèm theo gidm niệu. Đây khôug thể được xem là tình trạ ng thiếu kali cho đến lúc hồi phục, khi mà tế bào bắt đầu tổng hợp glycogen và protein bắt buộc hấp thu kali và cần phẩi lăng cung cấp kali trong khẩu phần. Nhiễm acid có liên quan với

1 1

Sinh ly hoc và hóa sinh học dinh dưỡng 137

mất kali từ tế bào. Ngược lại hấp thu kali kèm theo tăng pH.

Tình trạng thiếu kali nặng được biểu thị riêng biệt bằng kiểm hóa cùng với nghịch lý acid niệu. Tình trạng này thường xuyên là kết quả của giảm thể tích tuân hoàn, mất kali thay vì natri và cuối cùng mất hydro thay vì natri mặc dù chứng nhiễm kiểm đo chuyên hóa:

4 ECE ~> † bài tiết K* — | dự trữ K* -› thiếu hụt Kt T bài tiết H* trong nước

tiểu 4

Kiểm hóa + acid hóa nước tiểu

Rối loạn này không chỉ điều trị bằng dịch truyền kali mà còn bằng cả thể tích dịch thay thế,

Glucose, đặc biệt khi kết hợp với insulin; cũng gây nên sự hấp thu tế bào nhanh chóng và làm giảm mức kali trong huyết thanh. Chính vì những lý do này mà ngay trong những ngày đầu hỗ trợ dinh dưỡng cân phải theo dõi lượng kali huyết thanh hàng ngày và hàm lượng kali trong chế độ đinh dưỡng nhằm khôi phục lại lượng kali huyết tương. Trong những ngày đầu cẩn cung cấp dư thừa kali khoáng 100 mmol/ngày, rồi sau đó trong suốt giai đoạn nuôi ăn duy trì có thể giầm xuống

80 mmol/ngày hoặc ít hơn.

Magie

Mg phân phối chủ yếu ở xương (500-600 mmol) va trong dịch nội bào (500-850 mmol). Chỉ có khoảng 12-20 mmol hiện diện trong dịch ngoại bào, với nỗng độ từ 0,7-1/2 mmol/lít. Mg là thành phần thiết yếu của nhiều hệ thống enzym và trạng thái ổn định điện tích của màng (Na* ,K* - ATPase). Khi thiếu Mg va mite Mg huyết thanh thấp, gây cắm ứng thần kinh cơ và trong những trường hợp nặng gây co

giật. Chứng loạn nhịp tim và dãn mạch ngoại biên cũng có thể xẩy ra. Thiếu Mg chủ yếu gặp ở bệnh đường ruột, kèm theo mất dịch nhiều, và đặc biệt là hội chứng ruột ngắn. Nông độ Mg trong địch đoạn trên ruét non chi khodng-] mmol/l, va ting dân ở ruột về phía xa, do đó mất Mg từ đoạn xa da dày, ỗ rò, tiêu chẩy hay bệnh Crohn có thể làm ting thém su gidm Mg máu lâm sàng nghiêm trọng hơn.

Cũng giống như Ca, Mg liên kết với albumin và có hàm lượng thấp trong huyết thanh, chính vì vậy cần phải làm rõ khi có sự thay đổi nhẹ trong albumin huyết thanh. Tuy nhiên, nêng độ Mg tự do trong huyết thanh có thể có ảnh hưởng phụ lên sự tiết hormon parathyroid (PTH) và cũng gây giảm calci huyết. Do đó tất cả bệnh nhân giấm calci huyết nên kiểm tra Mg huyết thanh và điểu chỉnh ngay nếu xuất hiện vấn để khởi phát, Rất khó duy trì Mg huyết thanh ở mức bình

thường đối với bệnh nhân hội chứng ruột ngắn, nhưng điểu đáng ngạc nhiên ở

nhóm nây là có thể dung nạp tốt được thấp đến mức 0,5 mmoll. Luôn không biểu hiện triệu chứng cho đến khi Mg huyết thanh thấp hơn 0,4 mmol/l. Có thể cung cấp đường miệng giới hạn dudi dang magic oxit hay glycerophosphat, trong

Một phần của tài liệu NHUNG VAN DE CO BAN TRONG DINH DUONG LAM SANG (Trang 76 - 81)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(370 trang)