Bố trí xây dựng các công trình trong phạm vi cấp xã

Một phần của tài liệu ĐỀ CƯƠNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT (Trang 27 - 34)

Các công trình quản lý hành chính, phát triển văn hoá, dịch vụ xã hội:

Các công trình quản lý hành chính, phát triển văn hoá, dịch vụ xã hội bao gồm :

+ Công trình hành chính: Trụ sở UBND xã, Đảng uỷ xã, trụ sở các ban ngành, trụ sở hợp tác xã.

+ Công trình văn hoá: nhà văn hoá, câu lạc bộ, nhà truyền thống, thư viện, truyền thanh, hội trường, bãi chiếu bóng, sân khấu ngoài trời, vườn hoa...

+ Công trình giáo dục: nhà mẫu giáo, nhà trẻ, trường tiểu học, trường trung học cơ sở.

+ Công trình y tế: Trạm xá, nhà hộ sinh, vườn thuốc nam.

+ Công trình thể thao: sân bãi thể thao, vui chơi giải trí, hồ bơi.

+ Công trình dịch vụ: chợ, cửa hàng HTX mua bán, quán ăn, uống, cửa hàng sửa chữa và phục vụ sinh hoạt.

Các công trình trên, tuỳ theo chức năng và yêu cầu phục vụ mà phân bố cho hợp lý. Mỗi xã cần xác định một khu trung tâm chính, trong đó bao gồm các công trình quan trọng đáp ứng nhu cầu chung cho toàn xã và một vài trung tâm phụ ở một số thôn cách xa trung tâm xã với một số công trình thiết yếu phục vụ thường xuyên cho nhân dân.

Các công trình sản xuất trong điểm dân cư nông thôn

Công trình sản xuất trong nông thôn bao gồm: kho nông sản, trạm xay xát, trạm chế biến thức ăn gia súc, xưởng sửa chữa cơ khí nông cụ, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, trạm trại thí nghiệm, khuyến nông...

Các công trình sản xuất nên xây dựng thành các khu sản xuất tập trung nhằm sử dụng có hiệu quả thiết bị, máy móc, sử dụng chung hệ thống hạ tầng kỹ thuật: đường sá, cấp điện, cấp nước, thoát nước và vệ sinh môi trường. Cần nghiên cứu bố trí thành từng cụm theo chức năng hoạt động của các công trình. Đặc biệt những nơi có tiềm năng phát triển làng nghề cần được ưu tiên quỹ đất để xây dựng nhà xưởng, tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nông thôn.

Khi chọn đất xây dựng các khu sản xuất tập trung phải tính đến việc mở rộng khi cần thiết.

Các khu sản xuất tập trung phải bố trí ở nơi liên hệ thuận tiện với nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào và thị trường đầu ra của sản phẩm. Nên đặt các khu sản xuất tập trung gần các trục đường chính, hoặc ở cạnh dòng sông, kênh mương chính để tiện khâu vận chuyển, đồng thời phải đảm bảo khoảng cách an toàn về vệ sinh môi trường với các khu nhà ở.

Bố trí các công trình kỹ thuật trong khu đất ở

* Hệ thống đường ngõ xóm:

Đường trong ngõ xóm cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

+ Phù hợp với mạng lưới đường tổng thể của xã, huyện, đáp ứng mục tiêu phát triển với các thế mạnh về kinh tế của từng địa phương.

+ Các tuyến đường phải phù hợp với điều kiện địa hình, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật về độ dốc, hạn chế số lượng cầu, cống.

Việc xác định chiều rộng lưu không của hệ thống đường làng, xã là để có đất dự phòng phát triển. Việc thi công mặt đường cần phân theo giai đoạn, tuỳ thuộc khả năng của từng địa phương.

+ Kết cấu mặt đường cần chú ý sử dụng vật liệu địa phương để giảm bớt chi phí xây dựng.

+ ỏ gần khu vực trung tâm xã, hoặc gần chợ cần giành đất để phục vụ cho bãi đỗ xe cơ giới, tương lai có thể trở thành điểm đỗ xe khách nông thôn.

* Hệ thống điện

Cấp điện đối với nông thôn là nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất và phục vụ đời sống ở các điểm dân cư nông thôn. Nhu cầu sử dụng điện sẽ tăng theo sự phát triển kinh tế, chỉ số điện năng tiêu thụ trên đầu người cũng nói lên mức thu nhập và mức sống của một địa phương. Đối với các điểm dân cư nông thôn mới, mạng lưới điện cần được quy hoạch kiên cố và đồng bộ từ hệ thống nguồn điện và mạng lưới đường dây nhằm đáp ứng nhu cầu về điện trước mắt và lâu dài, đảm bảo an toàn trong sử dụng.

+ Nguồn cung cấp điện được xác định trên nguyên tắc sau:

- Đối với vùng nằm trong khu vực có hệ thống điện lưới quốc gia phải sử dụng hệ thống điện lưới quốc gia.

- Đối với vùng nằm xa hệ thống lưới điện quốc gia, hoặc chưa có điều kiện tiếp cận lưới điện quốc gia, có thể xây dựng nguồn điện độc lập (xây dựng trạm phát điện điêzel). Khu vực miền núi, nếu có điều kiện kết hợp thuỷ lợi thì xây dựng nhiều trạm thuỷ điện nhỏ, có tính toán nhu cầu dùng điện theo nguyên tắc cân đối tại chỗ.

+ Về hệ thống thiết bị điện và đường dây:

- Quy hoạch các tuyến điện trong các điểm dân cư phải gắn liền với quy hoạch đường sá.

- Trạm biến thế phải đặt ở trung độ của các điểm dùng điện, hoặc ở gần phụ tải điện lớn nhất, ở vị trí thuận tiện cho việc đặt đường dây ra, vào (đường cao thế và hạ thế); ít cắt ngang đường giao thông, không gây trở ngại cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, cách xa những tụ điểm đông người như trường học, chợ v.v…

- Kết cấu mạng lưới điện cần đơn giản, dùng đường dây điện trên không, dùng hệ thống cột điện bằng bê tông cốt thép, bố trí dọc theo đường làng để kết hợp hệ thống điện chiếu sáng công cộng. Các tuyến dây cáp điện vào hộ gia đình phải dùng cáp bọc để đảm bảo an toàn trong sử dụng.

* Hệ thống cấp, thoát nước.

- Cấp nước trong các điểm dân cư

+ Nước cấp trong các điểm dân cư gồm: nước dùng trong sinh hoạt của người; nước dùng cho chăn nuôi; nước dùng cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ...

+ Nguồn nước được khai thác từ : Nước ngầm thông qua hệ thống giếng khơi, giếng khoan; Nước mặt bao gồm sông, suối, hồ, đập...; Nước mưa tích trữ được trong các bể chứa.

+ Các giải pháp cấp nước sạch trong nông thôn:

- Nếu khai thác nước ngầm thì trong khu đất có bán kính 30 m tính từ giếng ra không được xây dựng các công trình làm nhiễm bẩn nguồn nước.

Những nơi có chất lượng nước không bảo đảm, cần làm bộ phận lắng lọc đơn giản như lọc qua cát, sỏi và than hoạt tính.

- Nếu dùng nguồn nước mặt như sông, suối, kênh rạch thì trong khoảng 200 m tính từ điểm lấy nước về thượng lưu và trong khỏng 100 m về hạ lưu không được xây dựng các công trình gây ô nhiễm, cấm thải chất bẩn vào nguồn nước. Cần có biện pháp xử lý nước, sử dụng các thiết bị lọc nước, khử trùng... phù hợp với điều kiện của địa phương.

- Đối với vùng núi cao, cả nước mặt và nước ngầm đều khan hiếm, nên xây dựng các bể chứa nước mưa dự trữ cho sinh hoạt của người, sử dụng tiết kiệm trong các hoạt động khác.

- Thoát nước và vệ sinh trong điểm dân cư

+ Trong các điểm dân cư phải có hệ thống thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt. Khi quy hoạch xây dựng điểm dân cư cần chú ý xây dựng mạng lưới cống rãnh thoát nước kết hợp vơí hệ thống đường làng ngõ xóm. Cần quy hoạch tập trung nước thải vào một số điểm để xử lý trước khi cho chảy vào ao hồ hay mương máng. Có thể xây dựng các mô hình xử lý nước thải như sau:

- Các hộ có vườn, ao, cần cho nước thải chảy vào hố tập trung, để lắng và phân huỷ sinh học rồi mới cho chảy xuống ao nuôi cá hoặc tưới vườn.

- Các hộ không có ao, vườn thì nước thải chảy ra cống rãnh chung của thôn, xóm dẫn vào bể lắng, xử lý sinh học rồi mới cho chảy ra sông, hồ.

Rãnh nước hay bể lắng cần phải có lắp đậy để đảm bảo vệ sinh.

+ Để đảm bảo vệ sinh môi trường trong điểm dân cư nông thôn cần chú ý các vấn đề sau:

- Các hộ gia đình cần xây dựng hố xí hai ngăn, hố xí bán tự hoại và tự hoại.

- Thu gom rác thải, có biện pháp xử lý phân, rác bằng cách ủ, hoặc dùng bể biogas kết hợp cho việc giải quyết chất đốt.

- Quy hoạch bãi rác, chọn mô hình xử lý rác và nước thải thích hợp.

d. Đánh giá tác động của việc phân bố đất phát triển hạ tầng

Đất phát triển hạ tầng theo phương án quy hoạch được xác định chuyển từ các mục đích sử dụng như nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở sang mục đích phát triển hạ tầng để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Quá trình chuyển mục đích sử dụng sẽ gây ra những tác động mạnh mẽ đối với sản xuất, đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi, đồng thời cũng gây nên ảnh hưởng nhất định đối với đời sống xã hội ở các vùng lân cận. Có thể đánh giá những tác động của việc phân bố đất phát triển hạ tầng trên hai mặt

1. Những tác động có lợi cho nền sản xuất xã hội:

* Xét trên phương diện vĩ mô, việc tăng quy mô diện tích đất phát triển hạ tầng trong phạm vi cho phép một mặt để tăng cường cho hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng và phát triển đất nước, mặt khác cũng làm thay đổi môi trường sống cho cộng đồng dân cư cả thành thị và nông thôn, tạo điều kiện kích thích các quá trình sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Điều này cần được khẳng định và minh chứng cụ thể trong các phương án quy hoạch, các dự án đầu tư, các chương trình phát triển.

* Xét trên phương diện vi mô cũng có thể nhận thấy những lợi ích mang lại cho các chủ sử dụng đất khi bị thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển hạ tầng, đó là :

- Giá trị của mảnh đất còn lại sẽ được nâng lên gấp nhiều lần so với trước khi có dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

- Có điều kiện thuận lợi hơn để người sử dụng đất tiếp cận với nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, từ đó có nhiều khả năng để tăng năng suất lao động xã hội.

- Tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động trong các cơ sở sản xuất công nghiệp và trong các hoạt động dịch vụ đa dạng.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế hộ nông thôn theo hướng công nghiệp hoá.

- Tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao dân trí, phát triển con người, phát triển xã hội.

2. Những thiệt hại do việc phân bố đất phát triển hạ tầng gây nên:

+ Thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp: Đất nông nghiệp bị chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp là một thiệt hại đáng kể cho quốc gia và các địa phương về khả năng đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm nuôi sống con người. Điều này được các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách rất chú trọng để có những biện pháp giảm thiểu việc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.

+ Thiệt hại đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi: Chủ sử dụng đất nông nghiệp khi bị thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống, nếu chưa có cơ hội chuyển sang ngành nghề khác sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp, nghèo đói... Chủ sử dụng đất ở khi bị thu hồi cũng gặp nhiều khó khăn để tạo lập nơi ở mới và khả năng đầu tư để duy trì cuộc sống.

+ ảnh hưởng xấu đến lãnh thổ vùng lân cận: Sự hình thành các khu công nghiệp lớn, những tuyến đường cao tốc, những nhà máy thuỷ điện, những khu vực khai thác khoáng sản... sẽ làm thay đổi căn bản bề mặt lãnh thổ, sẽ

gây nên những khó khăn đáng kể cho sản xuất và đời sống xã hội các vùng xung quanh như: ngập úng, ô nhiễm, khô hạn...

e. Những giải pháp khắc phục hậu quả phân bố sử dụng đất phát triển hạ tầng

Để thực hiện phương án quy hoạch phân bố sử dụng đất phát triển hạ tầng cần phải có những giải pháp cụ thể về kinh tế, kỹ thuật và pháp chế, nhằm giảm thiểu những thiệt hại khi phân bố đất phát triển hạ tầng, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất một cách hợp lý, góp phần đảm bảo tiến độ thi công các công trình, chống lãng phí trong sử dụng đất.

1. Giải pháp về kinh tế:

- Xác định rõ giá trị của mảnh đất, tính giá đền bù thiệt hại hợp lý khi thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển hạ tầng. Giá đền bù bao gồm cả giá trị mảnh đất và giá trị tài sản trên đất, đảm bảo cho người được đền bù có khả năng tạo lập nơi ở mới, hoặc có khả năng khai hoang đất mới để sản xuất, hoặc có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành nghề mới.

- Quy hoạch khu tái định cư với các điều kiện về đất đai và môi trường sống đảm bảo để người dân nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống.

- Hỗ trợ về vốn để phát triển sản xuất, phát triển nhà ở theo quy định của pháp luật.

- Mở các khoá đào tạo nghề để cho một bộ phận lao động nông nghiệp bị mất ruộng canh tác có cơ hội chuyển đổi nghề trong môi trường sản xuất công nghiệp hoặc thương mại dịch vụ. Cần có chính sách miễn học phí toàn phần hoặc miễn giảm một phần cho những học viên theo học nghề và ưu tiên bố trí việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp.

2. Giải pháp về kỹ thuật:

- Trên diện tích đất nông nghiệp bị chuyển sang đất phát triển hạ tầng cần có biện pháp thu gom lớp đất màu để sử dụng vào mục đích cải tạo đất.

- Đối với những loại đất phát triển hạ tầng sử dụng tạm thời trong một giai đoạn nhất định (đất khai thác khoáng sản, đất sản xuất nguyên vật liệu xây dựng) khi sử dụng cần có biện pháp khai thác hợp lý, sau khi hết niên hạn sử dụng phải có biện pháp san lấp, cải tạo mặt bằng, phục hồi độ màu mỡ để trả lại cho sản xuất nông nghiệp.

- Đối với đất quốc phòng và an ninh (trường bắn, bãi tập, vành đai biên giới...) được sử dụng vì lợi ích quốc phòng - an ninh là chính, song có thể kết hợp cả lợi ích phòng hộ và lợi ích kinh tế trong điều kiện cho phép.

3. Giải pháp về pháp chế:

- Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý đất đai và quản lý các công trình trên đất một cách cụ thể và hợp lý đối với từng loại đất phát triển hạ

tầng.

- Điều chỉnh bổ sung các nghị định của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng... cho phù hợp với thực tế nhằm thúc đẩy công tác giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tốc độ xây dựng phát triển đất nước.

- Nghiên cứu nhằm hoàn thiện cơ sở khoa học và pháp lý của chủ trương

“Đổi đất lấy hạ tầng” để xây dựng và ban hành các chính sách mới trong quản lý sử dụng đất đai.

Một phần của tài liệu ĐỀ CƯƠNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT (Trang 27 - 34)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(35 trang)
w