So sánh vĩ mô: là so sánh những vấn đề cốt lõi của các hệ thống pháp luật như các hình thức pháp luật, các phương pháp tư duy được sử dụng trong hệ thống pháp luật đó. Các nghiên cứu so sánh về các vấn đề như kĩ thuật lập pháp, phương pháp giải thích pháp luật, các loại nguồn và giá trị của chúng ta trong hệ thống nguồn của các hệ thống pháp luật… cũng là những so sánh ở cấp độ vĩ mô.
So sánh vi mô: là so sánh tập trung vào các vấn đề cụ thể trong các hệ thống pháp luật. Nói cách khác, so sánh ở cấp độ vi mô là so sánh các quy phạm pháp luật được sử dụng để giải quyết một vấn đề thực tế cụ thể nào đó ở các hệ thống pháp luật khác nhau.
Cấp độ so sánh: so sánh vi mô và so sánh vĩ mô
Xét về phạm vi, so sánh vi mô không bao quát hết toàn bộ hệ thống pháp luật mà nó tập trung vào các việc so sánh các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật của các hệ thống pháp luật. Ví dụ: so sánh chế định hợp đồng giữa các hệ thống pháp luật, so sánh các quy phạm điều chỉnh vấn đề hiệu lực của di chúc của hệ thống pháp luật…
=> Sự phân biệt so sánh vi mô và so sánh vĩ mô chỉ mang tính tương đối. Ranh giới phân chia 2 cấp độ này không phải lúc nào cũng rõ rang.
Thông thường việc so sánh vi mô và vĩ mô được thực hiện đồng thời trong một công trình nghiên cứu.
Cấp độ so sánh: so sánh vi mô và so sánh vĩ m
Có nhiều phương pháp nghiên cứu, so sánh pháp luật. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp nào thì phụ thuộc vào đặc điểm từng công trình nghiên cứu cụ thể và khả năng của người nghiên cứu.
2. Trường hợp cụ thể:
Cần so sánh: các quy phạm pháp luật điều chỉnh thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.
Hệ thống pháp luật cần tiến hành so sánh là: Pháp luật Việt Nam và pháp luật Liên minh Châu Âu (EU).
Về nguồn luật điều chỉnhthỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài: cả hai hệ thống pháp luật đều có những quy phạm pháp luật tương ứng điều chỉnh. Cụ thể: theo pháp luật Việt Nam thì những quy phạm điều chỉnh vấn đề này được quy định trong Bộ luật Dân sự và các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước, theo pháp luật EU đó là Công ước Rome 1980 và Quy tắc Rome I.
Từ đó có thể tìm được quy phạm, chế định hay văn bản pháp luật cụ thể tương ứng trong hai hệ thống pháp luật cần so sánh.
* Ví dụ 1: Nghiên cứu so sánh pháp luật điều chỉnh về thoả thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và EU.
Cấp độ so sánh: cấp độ so sánh vi mô, tập trung vào một vấn đề cụ thể là “thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài”.
Mục đích công trình so sánh: tìm ra và đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh vấn đề “thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài”.
* Ví dụ 1: Nghiên cứu so sánh pháp luật điều chỉnh về thoả thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và EU.
Từ những phân tích trên, để tiến hành nghiên cứu so sánh “pháp luật điều chỉnh về thoả thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu
tố nước ngoài của Việt Nam và EU” thì người nghiên cứu nên lựa chọn sử dụng phương pháp so sánh quy phạm, bên cạnh đó kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chung như phương pháp phân tích, mô tả, tổng hợp, quy nạp.... Bởi lẽ, phương pháp so sánh quy phạm là phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức tổng hợp sâu rộng về hệ thống pháp luật mà mình nghiên cứu.
Phương pháp này thích hợp để áp dụng trong những công trình so sánh mang tính vi mô, cụ thể với mục đích so sánh, đánh giá đơn thuần như công trình so sánh trên. Do đó, phương pháp so sánh quy phạm là phương pháp thích hợp nhất mà người nghiên cứu nên sử dụng để thực hiện công trình nghiên cứu này.
* Ví dụ 1: Nghiên cứu so sánh pháp luật điều chỉnh về thoả thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và EU.
Cần so sánh: pháp luật điều chỉnh về thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.
Hệ thống pháp luật cần tiến hành nghiên cứu so sánh là: Pháp luật Việt Nam và pháp luật Liên minh Châu Âu (EU);
Mục đích công trình so sánh: Mục tiêu của việc nghiên cứu không chỉ là tìm ra và đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh vấn đề là “thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài” mà còn rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Ví dụ 2: Pháp luật điều chỉnh về thoả thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp
đồng dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU. Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam.
- Cấp độ so sánh: Từ mục đích nghiên cứu có thể nhận thấy cần cả so sánh vĩ mô và so sánh vi mô.
So sánh vĩ mô về phương pháp tư duy được sử dụng trong hai hệ thống pháp luật
So sánh vi mô tập trung vào việc so sánh các quy phạm pháp luật điều chỉnh thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.
Ví dụ 2: Pháp luật điều chỉnh về thoả thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU. Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam.
Từ những phân tích trên, nên áp dụng phương pháp so sánh quy phạm để tiến hành công trình nghiên cứu so sánh ở ví dụ 2. Đây là phương pháp so
sánh quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, văn bản pháp luật của hệ thống pháp luật này với quy phạm, chế định hay văn bản pháp luật tương ứng trong hệ thống pháp luật khác. Ở đây, chúng ta có thể tìm được quy phạm, chế định hay văn bản pháp luật về thoả thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài tương ứng trong hai hệ thống pháp luật Việt Nam và EU (vì pháp luật EU là hệ thống pháp luật lớn, có thể tìm được nguồn). Thêm vào đó, phương pháp so sánh quy phạm là phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức tổng hợp sâu rộng về hệ thống pháp luật mà mình nghiên cứu. Phương pháp này thích hợp để áp dụng trong những công trình so sánh mang tính vi mô, cụ thể với mục đích so sánh, đánh giá, rút kinh nghiệm như công trình so sánh trên. Tóm lại, đối với công trình này, người nghiên cứu nên sử dụng phương pháp so sánh quy phạm kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chung để mang lại hiệu quả nghiên cứu và có thể đảm bảo mục đích nghiên cứu.
Ví dụ 2: Pháp luật điều chỉnh về thoả thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật EU. Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam.