Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC ỦY
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
3.3.3. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện công chức
Thứ nhất: Đổi mới cách thức, quy trình thực hiện quy hoạch công chức Nhiều năm nay, Đảng ta đã đề ra chủ trương xây dựng, quy hoạch cán bộ, Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII nhấn mạnh: “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài ” [22, tr.169].
Về mặt nhận thức: cần khẳng định phải đưa công tác quy hoạch công chức trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy đảng. Các cấp ủy đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cần thường xuyên tổng kết, đánh giá kết quả, tìm nguyên nhân, bổ sung kịp thời những khiếm khuyết trong việc thực hiện quy hoạch công chức của cơ quan mình. Có kết luận cụ thể về mức độ phấn đấu, trưởng thành của công chức trong diện quy hoạch. Kịp thời bố trí, sử dụng công chức trong diện quy hoạch khi
họ có chiều hướng phát triển đi lên. Loại bỏ tình trạng quy hoạch một đằng, sử dụng một nẻo, quy hoạch không gắn với đào tạo, luân chuyển cán bộ.
Việc lựa chọn công chức đưa vào diện quy hoạch là khâu rất quan trọng trong quy hoạch công chức. Muốn lựa chọn đúng công chức đưa vào diện quy hoạch, cần rà soát, đánh giá toàn bộ đội ngũ công chức, phát hiện mặt mạnh, mặt yếu của từng công chức trong phạm vi cấp mình. Căn cứ vào yêu cầu, trách nhiệm của từng vị trí, chức danh mà lựa chọn cho phù hợp, đủ tiêu chuẩn. Việc lựa chọn công chức đưa vào diện quy hoạch phải được tiến hành kỹ lưỡng, dân chủ trong nội bộ cấp ủy, thường vụ. Ở những mức độ và phạm vi nhất định có thể dựa vào sự giới thiệu của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Số lượng công chức đưa vào diện quy hoạch cũng cần được mở rộng, có thể là 3-4 người cho một chức danh để họ có điều kiện thi đua học tập, phấn đấu vươn lên, để có điều kiện lựa chọn người tốt. (Trong quy hoạch, mỗi chức danh lãnh đạo cần có ít nhất 2-3 công chức kế cận. Mỗi công chức có thể dự kiến đảm nhiệm 2-3 chức danh). Cần xây dựng quy hoạch “động” và “mở”, với đối tượng quy hoạch rộng rãi trong toàn ngành, toàn tỉnh (Mở là quy hoạch không khép kín trong từng ngành, địa phương, đơn vị. Động là quy hoạch được rà soát thường xuyên, được điều chỉnh theo sát với thực tế, kịp thời bổ sung những nhân tố mới vào quy hoạch)
Sau mỗi kỳ kiểm điểm, đánh giá công chức hàng năm, các cơ quan cần chú ý bổ sung quy hoạch công chức để tạo ra “dòng chảy” trong công tác quy hoạch công chức. Những công chức tuy đã ở trong diện quy hoạch nhưng sau thời gian phấn đấu bộc lộ những khuyết điểm và không đáp ứng được yêu cầu sẽ được đưa ra khỏi quy hoạch. Để thực hiện tốt công tác quy hoạch công chức, bản thân cấp ủy, thủ trưởng cơ quan phải thực sự công tâm, khách quan, mạnh dạn đề bạt những người có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ dù người đó còn trẻ và điều quan trọng là phải luôn đảm bảo nguyên tắc công khai trong quy hoạch (công khai tiêu chuẩn, công khai kết luận trong đánh giá chức dự nguồn, công khai quy trình tuyển chọn công chức, công khai danh sách quy hoạch) tạo điều kiện để nhiều người biết tham gia công tác nhận xét đánh giá, kiểm tra giám sát công chức từ đó góp phần nâng cao chất lượng công chức.
Thứ hai: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức
Những năm qua Nhà nước ta tập trung đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Hệ thống các trường đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Nhiều hình thức đào tạo được triển khai như: mở các lớp huấn luyện, cho đi học tập tham quan, tìm hiểu thực tế ở trong và ngoài nước.
Cùng với cả nước, số lượng công chức UBND tỉnh Ninh Bình đã qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng chiếm tỷ lệ cao. Tuy nhiên, đội ngũ này chưa mạnh, thiếu nhạy bén trong trong nghiệp vụ và chất lượng hoàn thành công việc chưa tương xứng với trình độ được đào tạo. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đào tạo, bồi dưỡng chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Trong đó, nguyên nhân cơ bản là do một số công chức, một số cơ quan cử công chức đi học chưa nhận thức đúng về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng. Để khắc phục tình trạng này cần phải:
Một là, xác định rõ một số vấn đề mang tính lý luận và nguyên tắc:
- Công chức nhà nước là một nghề, nên đòi hỏi phải có nghiệp vụ riêng. Vì vậy, một người muốn trở thành công chức phải được đào tạo nghề. Điều này cũng có nghĩa không phải ai có trình độ học vấn cao đều trở thành công chức.
- Công chức là công bộc của nhân dân, phải tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân. Do vậy, cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cần phải làm tốt công tác bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cho đội ngũ công chức.
- Công chức lãnh đạo là người không chỉ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà phải giỏi về quản lý nhà nước, phải hiểu rõ các quyết định của mình sẽ tác động như thế nào với xã hội, với công dân. Do vậy, bắt buộc họ phải qua các trường đào tạo chuyên nghiệp về quản lý nhà nước, về hành chính nhà nước mới được bổ nhiệm để điều hành và quản lý.
- Những người làm việc tại các cơ quan Đảng, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp khi được luân chuyển sang bộ máy hành chính nhà nước phải được bồi dưỡng những kiến thức quản lý hành chính nhà nước.
Hai là, quy định cụ thể chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm:
- Đào tạo tiền công vụ;
- Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch chức danh công chức;
- Đào tạo, bồi dưỡng theo các chức danh lãnh đạo, quản lý;
- Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm.
Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức phải căn cứ vào yêu cầu của vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh chức vụ lãnh đạo, quản lý; tiêu chuẩn của ngạch công chức . Hàng năm, công chức phải tham gia các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chức danh công tác của mình.
Ba là, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và nguồn kinh phí trong đào tạo, bồi dưỡng công chức cụ thể là:
- Cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý công chức chịu trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực của công chức.
- Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm tạo điều kiện để công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng và trình độ chuyên môn.
- Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.
Bốn là, xác định cụ thể trách nhiệm và quyền lợi của công chức trong đào tạo, bồi dưỡng. Đó là:
- Công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng phải chấp hành nghiêm túc quy chế đào tạo, bồi dưỡng và chịu sự quản lý của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.
- Công chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp theo quy định của pháp luật. Thời gian học được tính vào thâm niên công tác liên tục và được xét nâng lương theo quy định của pháp luật.
- Công chức đạt kết quả xuất sắc trong khóa đào tạo, bồi dưỡng thì được biểu dương, khen thưởng; trường hợp không hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng thì bị xử lý kỷ luật.
- Công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nếu tự ý bỏ việc, xin thôi việc phải đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Năm là, cải tiến nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng.
Lấy tiêu chuẩn cán bộ, công chức làm căn cứ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng với nội dung thiết thực, phù hợp với từng đối tượng công chức. Chú trọng về phẩm chất đạo đức và kiến thức lý luận, thực tiễn, thực hành.
Đào tạo, bồi dưỡng có trọng tâm, trọng điểm, chuyên sâu, toàn diện: chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, kỹ năng lãnh đạo…kết hợp với đào tạo trong thực tiễn. Khuyến khích phong trào học tập trong đội ngũ công chức UBND tỉnh để nâng cao trình độ. Có quy chế kiểm tra việc sử dụng công chức sau đào tạo.
Đào tạo nâng cao để công chức làm việc có chất lượng cao, đào tạo mở rộng để cung cấp thêm kiến thức, kỹ năng làm việc cho công chức ở mức cao hơn và cập nhật thêm kiến thức mới, tránh tụt hậu. Việc đào tạo, bồi dưỡng theo hướng linh hoạt, thiếu kiến thức ở lĩnh vực nào thì đào tạo, bồi dưỡng ở lĩnh vực ấy, tránh đào tạo tràn lan, kém hiệu quả. Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức UBND tỉnh hiện nay phải hết sức chú ý trang bị kiến thức hiện đại, nhất là phương pháp quản lý và việc sử dụng các kỹ thuật công nghệ vi tính vào quản lý.
Củng cố, tăng cường các cơ quan chức năng quản lý đào tạo. Thành lập bộ phận tham mưu về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức từng cấp. Mỗi cơ quan phải cử một lãnh đạo theo dõi công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, không khoán trắng, phó mặc cho cơ sở đào tạo. Để tránh lãng phí trong đào tạo cần thực hiện quy hoạch đào tạo có địa chỉ, đào tạo theo đơn đặt hàng, theo nhu cầu thực tế của từng ngành, không đào tạo ồ ạt, tràn lan, hình thức.
Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng yếu tố không thể bỏ qua đó là chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo theo hướng hiện đại hóa. Cần tăng cường đủ số lượng giảng viên để đảm nhiệm công tác giảng dạy. Xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi đầu ngành của các môn học.
Có chính sách thu hút những sinh viên giỏi ở các trường đại học, các cán bộ đang công tác thực tiễn vào làm giảng dạy ở hệ thống đào tạo cán bộ, công chức; tăng cường đội ngũ giảng viên kiêm chức là cán bộ lãnh đạo các sở, ban ngành, đoàn thể có kinh nghiệm thực tiễn, có năng lực sư phạm tham gia giảng dạy. Chú trọng nâng cao chất lượng toàn diện, trước hết là chất lượng chính trị (trình độ, bản lĩnh, lập trường chính trị) của đội ngũ giáo viên trường chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng
chính trị các huyện, thị xã, thành phố. Tiến hành chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, phấn đấu đến năm 2020 có 70% cán bộ giảng dạy ở trường chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã, thành phố có bằng thạc sỹ trở lên (hiện nay có khoảng 15%). Cần có chính sách đãi ngộ tốt đối với đội ngũ giảng viên trong các cơ sở đào tạo này và tăng cường đầu tư kinh phí, nâng cấp các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, coi đầu tư cho đào tạo cán bộ, công chức là đầu tư cho
“cái gốc” của tương lai.