Kết quả hoạt động NHBL giai đoạn 2012-2014

Một phần của tài liệu Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội, chi nhánh Quảng Ninh (Trang 72 - 82)

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN - HÀ NỘI, CHI NHÁNH QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN 2012-2014

3.2. Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà nội, chi nhánh Quảng Ninh

3.2.1. Kết quả hoạt động NHBL giai đoạn 2012-2014

Công tác nguồn vốn đƣợc coi là nhiệm vụ trọng tâm, đƣợc ƣu tiên hàng đầu để đẩy mạnh, tăng trưởng nguồn vốn huy động góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ đƣợc giao, đáp ứng nguồn vốn cho các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh và vốn cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Chi nhánh đã đẩy mạnh triển khai các chương trình huy động vốn như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm tặng quà, chứng chỉ tiền gửi đa dạng về kỳ hạn với các mức lãi suất linh hoạt theo sát diễn biến thị trường, tuân thủ đúng quy định của NHNN và SHB Trung ƣơng đồng thời đảm bảo đƣợc lợi ích hài hoà giữa ngân hàng và khách hàng, làm tốt chính sách khách hàng.

Phân theo khách hàng

Biểu đồ 3.1: Kết quả huy động vốn theo khách hàng tại SHB chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2012-2014

Nhìn vào bảng 3.5 và biểu 3.1 dễ nhận thấy tỷ trọng nguồn vốn phân theo khách hàng của SHB chi nhánh Quảng Ninh có sự thay đổi trong những năm qua.

Nếu nhƣ năm 2012, ngân hàng chủ yếu huy động vốn từ khu vực dân cƣ, chiếm 56,2% trong tổng VHĐ, thì bước sang năm 2013 tỷ trọng này giảm đáng kể, chỉ còn chiếm 42,4% và năm 2014 tiếp tục giảm xuống còn 41%. VHĐ từ TCKT đang dần vươn lên giữ vai trò chủ đạo, năm 2012 chỉ chiếm 43,8%, năm 2013 tăng lên 57,6%

và năm 2014 đạt mức 59%.

43.8

57.6 59.0

56.2

42.4 41.0

0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0

Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014

- TCKT - Dân cƣ

Bảng 3.5. Tình hình huy động vốn tại SHB chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2012-2014

Đơn vị tính: Tỷ đồng, % Năm

Tiêu chí

2012 2013 2014

2013 /2012 2014 / 2013

Tốc độ PTBQ (%) Giá

trị

Tỷ trọng

(%)

Giá trị

Tỷ trọng

(%)

Giá trị

Tỷ trọng

(%)

Chên h lệch

Tỷ lệ (%)

Chên h lệch

Tỷ lệ (%)

Tổng VHĐ 3198 100 4138 100 4636 100 940,0 29,4 498 12,0 20,4

Phân theo khách hàng

- TCKT 1400 43,8 2384 57,6 2736 59,0 984 70,3 352 14,8 39,8

- Dân cƣ 1798 56,2 1754 42,4 1902 41,0 -44 -2,4 148 8,4 2,9

Phân theo kỳ hạn

- Không kỳ hạn 24 1,3 6 0,3 30 1,6 -18 -75,0 24 400,0 11,8

- Kỳ hạn < 12 tháng 682 37,9 1308 74,6 1130 59,4 626 91,8 -178 -13,6 28,7 - Kỳ hạn >=12 tháng 1092 60,7 440 25,1 742 39,0 -652 -59,7 302 68,6 -17,6

Phân theo sản phẩm

- Tiết kiệm 1662 92,4 1302 74,2 1331 70,0 -360 -21,7 29,4 2,3 -10,5

- Giấy tờ có giá 136 7,6 452 25,8 571 30,0 316 232,4 118,6 26,2 104,8

(Nguồn: Báo cáo thường niên của SHB chi nhánh Quảng Ninh các năm 2012, 2013, 2014)

Xét về số tuyệt đối thì VHĐ từ dân cƣ cũng có những diễn biến phức tạp trong giai đoạn này. Năm 2012 ngân hàng huy động đƣợc 1798 tỷ đồng từ dân cư, sang năm 2013 sụt giảm 44 tỷ đồng (tương đương 2,4%) xuống còn 1754 tỷ đồng, nhưng bước sang năm 2014 lại tăng 148 tỷ đồng (tương ứng 8,4%) lên mức 1902 tỷ đồng.

Nguyên nhân của những diễn biến phức tạp này là do trong những tháng đầu năm 2013 - giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới đang suy thoái, lạm phát tăng cao, lãi suất đua nhau tăng vọt, chấp hành nghiêm túc trần lãi suất của Hiệp hội ngân hàng, lãi suất huy động của Chi nhánh thấp hơn lãi suất của các ngân hàng cổ phần. Dân cƣ lại là khu vực có tâm lý đám đông, dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động về lãi suất trên thị trường, họ đã rút tiền từ nơi có lãi suất thấp để gửi vào nơi có lãi suất cao hơn mong sinh lời, hưởng lợi lớn. Bước sang năm 2014, khi cuộc khủng hoảng đã có phần hạ nhiệt, thậm chí còn có nguy cơ giảm phát, các mức lãi suất trên thị trường bình ổn trở lại, lãi suất huy động của SHB chi nhánh Quảng Ninh còn dẫn đầu trên địa bàn tại hầu hết các kỳ hạn, nên đang dần kéo đƣợc khách hàng cá nhân quay lại gửi tiền. Trong đối tƣợng khách hàng là TCKT cũng có DNVVN, là đối tƣợng khách hàng của dịch vụ NHBL. Do ít chịu ảnh hưởng bởi những biến động về lãi suất huy động hơn khu vực dân cư nên xu hướng chung của nguồn vốn huy động từ khu vực TCKT vẫn là tăng lên, không có sự thay đổi gì đáng kể

Phân theo kỳ hạn dân cƣ

Bản thân VHĐ từ dân cƣ trong giai đoạn 2012-2014 ở SHB chi nhánh Quảng Ninh đã có những biến động phức tạp, qua bảng 3.5 và biểu đồ 3.2. ta thấy tỷ trọng nguồn vốn từ dân cƣ xét theo kỳ hạn cũng có những thay đổi đáng kể nhƣng đang theo chiều hướng tích cực hơn.

Tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi thanh toán năm 2012 chiếm 1,3% tổng VHĐ từ dân cư, năm 2013 giảm 18 tỷ đồng (tương đương 75%) xuống còn 6 tỷ đồng chiếm 0,34% và bước sang năm 2014 đã được cải thiện đáng kể, tăng 24 tỷ đồng (tương đương 400%) lên 30 tỷ đồng chiếm 1,6%. Tiền gửi thanh toán là loại hình tiền gửi ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại, mang lại rất nhiều tiện ích cho khách hàng. Khi mở tài khoản tiền gửi loại này, khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng cung cấp thẻ ATM và đƣợc sử dụng các dịch vụ hiện đại kèm theo nhƣ:

rút tiền bất cứ lúc nào, kiểm tra số dƣ tài khoản, chuyển khoản, thanh toán,… và có cả các dịch vụ điện tử nhƣ Home banking, Phone banking.

Biểu đồ 3.2: Kết quả huy động vốn từ dân cư theo thời hạn tại SHB chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2012-2014

SHB chi nhánh Quảng Ninh hiện nay cũng đã cung cấp cho khách hàng loại hình sản phẩm này nhƣng mức phí thu để duy trì tài khoản hàng năm còn cao so với các ngân hàng khác, hơn nữa lãi suất lại thấp nên nguồn huy động từ loại tiền gửi này năm 2014 đã sụt giảm đáng kể. Ngân hàng cũng thực hiện theo đúng chỉ thị 20/2007/CT-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về việc trả lương qua tài khoản ngân hàng cho CBCNV hưởng lương từ ngân sách nhà nước, qua đó cũng góp một phần đáng kể vào nguồn vốn huy động của ngân hàng khi một bộ phận CBCNV này chƣa rút tiền từ tài khoản.

Tiền gửi kỳ hạn 12 tháng có cùng xu hướng với tiền gửi không kỳ hạn.

Năm 2012 loại tiền gửi này chiếm 60,7% tổng VHĐ từ dân cƣ, đạt giá trị tuyệt đối là 1092 tỷ đồng, năm 2013 giảm 652 tỷ đồng (tương đương 59,7%) xuống còn 440 tỷ đồng chiếm 25,1%, sang năm 2014 nguồn tiền gửi này tăng 302 tỷ đồng (tương đương 68,6%) lên mức 742 tỷ đồng chiếm 39%.

Tiền gửi kỳ hạn < 12 tháng có diễn biến trái chiều với hai loại tiền gửi trên.

Năm 2012 chiếm 37,9% tổng VHĐ từ dân cƣ, đứng thứ hai sau tiền gửi kỳ hạn 12 tháng với giá trị tuyệt đối là 682 tỷ đồng, nhƣng năm 2013 đã vƣợt lên dẫn đầu với tỷ trọng 74,6%, tăng 626 tỷ đồng (tương ứng 91,8%) lên 1308 tỷ đồng, đến năm 2014 lại giảm 178 tỷ đồng (tương ứng 13,6%) xuống 1130 tỷ đồng nhưng vẫn đứng vị trí thứ nhất về cơ cấu với tỷ trọng 59,4%.

1.3 0.3 1.6

37.9

74.6

60.7 59.4

25.1

39.0

0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0

Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014

- Không kỳ hạn - Kỳ hạn < 12 tháng - Kỳ hạn >=12 tháng

Tất cả những thay đổi kể trên đều xuất phát từ nguyên nhân sâu xa là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO nên chịu tác động không nhỏ, lạm phát tăng cao, lãi suất biến động liên tục. SHB cũng nhƣ các ngân hàng khác liên tục phải điều chỉnh lãi suất để phù hợp với tình hình thị trường, lãi suất huy động ngắn hạn có lúc lên mức 16%, do đó thu hút khách hàng gửi tiền kỳ hạn ngắn là điều dễ hiểu.

Phân theo sản phẩm

Hình thức huy động bằng sản phẩm tiền gửi tiết kiệm là cách thức huy động truyền thống và đóng vai trò chủ chốt của bất kỳ một ngân hàng nào và đối với SHB cũng nhƣ vậy. Trong giai đoạn 2012-2014 thì tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng VHĐ từ dân cƣ. Năm 2012 nguồn vốn này chiếm 92,4% với giá trị là 1662 tỷ đồng, năm 2013 giảm 360 tỷ đồng (tương ứng 21,7%) xuống 1302 tỷ đồng, chiếm 74,2% và năm 2014 tăng 29,4 tỷ đồng (tương ứng 2,3%) lên 1331 tỷ đồng, chiếm 70%. Do là sản phẩm huy động quan trọng nên SHB chi nhánh Quảng Ninh rất quan tâm và đầu tƣ nhiều cho loại hình tiền gửi này phát triển để thu hút đƣợc đông đảo quần chúng nhân dân. SHB chi nhánh Quảng Ninh nhận tiền gửi dân cƣ bằng các loại tiền VND, USD, EUR, GBP. Các khoản tiền mà khách hàng gửi tại SHB chi nhánh Quảng Ninh luôn đƣợc đảm bảo về độ an toàn, bí mật, đƣợc mua bảo hiểm, khách hàng không mất phí khi đến thực hiện giao dịch gửi tiền hay rút tiền. Với thủ tục nhanh chóng, đơn giản, thuận tiện, thái độ phục vụ chu đáo, tận tình, có nhiều kỳ hạn để lựa chọn với các mức lãi suất hợp lý và đặc biệt có các sản phẩm với tên gọi hấp dẫn nhƣ: tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm, tiết kiệm rút gốc linh hoạt,…SHB đã dần thu hút đƣợc một lƣợng khách hàng trung thành, luôn sẵn sàng gửi tiền khi có nguồn thu đáng kể.

Bên cạnh sản phẩm tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động thường xuyên, liên tục thì SHB chi nhánh Quảng Ninh cũng tiến hành huy động vốn qua việc phát hành giấy tờ có giá theo từng giai đoạn cụ thể nhằm bổ sung cho nguồn vốn còn thiếu hụt trong công tác tín dụng. Do không phải là hoạt động thường xuyên nên tỷ trọng nguồn vốn này thấp hơn so với tiền gửi tiết kiệm. Qua biểu 3.5 ta thấy tỷ trọng này qua các năm 2012, 2013, 2014 tương ứng lần lượt là 7,6%, 25,8% và 30%. Trong năm 2013, với việc SHB thực hiện thành công 5 đợt phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, lãi suất hấp dẫn và chính sách thanh toán trước hạn linh hoạt, SHB

chi nhánh Quảng Ninh đã thu hút đƣợc nhiều khách hàng tham gia đạt tổng doanh số phát hành khoảng 571 tỷ đồng, tăng 118,6 tỷ đồng (tương ứng 26,2%) so với năm 2013. Năm 2009, ngay từ đầu năm thì Thống đốc NHNN đã có Quyết định số 440/QĐ-NHNN cho phép SHB đƣợc phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn năm 2014, theo đó tổng mệnh giá của giấy tờ có giá mà SHB đƣợc phép phát hành là 3.000 tỷ đồng, lãi suất bằng VND do SHB tự quyết định sao cho phù hợp với quy định của Thống đốc NHNN và cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. Nhờ vậy, nguồn thu từ phát hành giấy tờ có giá của SHB năm 2009 cũng tăng lên đáng kể.

Biểu đồ 3.3: Kết quả huy động vốn theo sản phẩm tại SHB chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2014

Qua thực tế hoạt động cho thấy tuy thị phần huy động vốn chiếm 11% trên địa bàn tỉnh, đứng sau BIDV, NHNNo nhƣng chủ yếu là do là ngân hàng đã hoạt động lâu năm trên thị trường, có được một lượng khách hàng trung thành nhất định, còn thực chất các sản phẩm huy động của SHB chƣa thực sự đa dạng, chƣa tạo ra đƣợc sự khác biệt hoàn toàn so với các ngân hàng khác. Các hoạt động quảng cáo, marketing vẫn còn chƣa rầm rộ, mới chỉ là hình thức treo băng rôn tại các phòng giao dịch, các mẩu tin nhỏ trên báo chí. Trong thời gian tới, để giữ vững đƣợc vị thế của mình trên địa bàn thì SHB cần có nhiều bước đột phá hơn nữa trong công tác nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới cũng như tăng cường các hoạt động marketing đến khách hàng hơn nữa.

92.4

74.2

70.0

7.6

25.8

30.0

0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0 90.0 100.0

Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014

Tiết kiệm Giấy tờ có giá

3.2.1.2. Dịch vụ tín dụng bán lẻ

Hoạt động tín dụng bán lẻ là hoạt động mang lại nguồn thu lớn nhất cho ngân hàng nếu xét trong toàn bộ các hoạt động thuộc dịch vụ NHBL, các khoản thu phí tuy nhiều nhƣng giá trị rất nhỏ nên chƣa thể bằng đƣợc hoạt động này. Nắm đƣợc đặc điểm quan trọng đó, SHB chi nhánh Quảng Ninh đã triển khai nhiều sản phẩm tín dụng bán lẻ để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu khác nhau của cá nhân, hộ gia đình cũng nhƣ các DNVVN trên địa bàn tỉnh. Nhìn vào bảng 3.6 ta thấy hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng đang theo xu hướng phát triển dần qua các năm. Năm 2012, dƣ nợ bán lẻ là 907,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 12,8% tổng dƣ nợ, năm 2013 tăng 175,8 tỷ đồng (tương ứng 3%) đạt giá trị tuyệt đối là 1.083,2 tỷ đồng và chiếm 13,6% tổng dư nợ, sang năm 2014 giảm 132,7 tỷ đồng (tương ứng 12,3%) lên 950,4 tỷ đồng và chiếm 11,3% tổng dƣ nợ.

Về chất lượng tín dụng bán lẻ: nợ xấu đang có xu hướng tăng lên cùng với chiều hướng phát triển của tín dụng bán lẻ. Do đó, SHB chi nhánh Quảng Ninh cần chú trọng hơn nữa vào công tác thẩm định khách hàng ngay từ giai đoạn đầu khi lập hồ sơ vay vốn, bởi với số lƣợng khách hàng nhỏ lẻ đông đảo thì công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay là rất khó khăn, mất nhiều chi phí, thời gian và công sức của cán bộ tín dụng.

Tình hình thực hiện theo từng sản phẩm cụ thể nhƣ sau:

Cho vay DNVVN

Tuy có biến động năm 2013 làm tỷ trọng cho vay DNVVN giảm nhƣng xét về số tuyệt đối thì dƣ nợ của sản phẩm tín dụng này vẫn tăng qua các năm và luôn giữ vị trí quan trọng nhất trong lĩnh vực tín dụng bán lẻ tại SHB chi nhánh Quảng Ninh. Năm 2013 tăng 15,4 tỷ đồng (tương đương 3%) so với năm 2012, năm 2014 tăng 28,8 tỷ đồng (tương đương 5,5%) so với năm 2013. Số lượng các DNVVN trên địa bàn tỉnh cũng tăng trưởng dần qua các năm, tính đến năm 2014 đã có khoảng 1465 doanh nghiệp đang hoạt động và là thị trường đầy tiềm năng không chỉ cho SHB chi nhánh Quảng Ninh mà còn cho các ngân hàng khác. Tuy gia tăng đƣợc công tác cho vay đối với DNVVN nhƣng SHB chi nhánh Quảng Ninh cũng cần chú trọng đến công tác quản lý chất lƣợng tín dụng sau cho vay, tránh để xảy ra tình trạng cho vay ồ ạt nhưng nợ xấu lại tăng nhanh, như vậy cũng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và uy tín của ngân hàng.

Bảng 3.6. Kết quả hoạt động tín dụng bán lẻ của SHB chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2014

Đơn vị tính: Tỷ đồng, %

Năm Tiêu chí

2012 2013 2014 2013 /2012 2014 / 2013 Tốc độ

PTBQ (%) Giá

trị

Tỷ trọng

(%)

Giá trị

Tỷ trọng

(%)

Giá trị Tỷ trọng

(%)

Chênh lệch

Tỷ lệ (%)

Chênh lệch

Tỷ lệ (%)

1. Tổng dư nợ tín dụng 7.055,8 100,0 7.935,3 100,0 8.406,6 100,0 879,5 12,5 471,2 5,9 9,2 2. Dư nợ tín dụng bán lẻ 907,3 12,9 1.083,2 13,6 950,4 11,3 175,8 19,4 -132,7 -12,3 2,3

2.1. Cho vay DNVVN 512,3 56,5 527,7 48,7 556,5 58,6 15,4 3,0 28,8 5,5 4,2

2.2. Cho vay CBCNV 47,3 5,2 42,1 3,9 42,6 4,5 -5,2 -11,0 0,6 1,3 -5,0

2.3. Cho vay mua ôtô 79,0 8,7 61,2 5,7 42,0 4,4 -17,8 -22,5 -19,2 -31,3 -27,0 2.4. Cho vay thấu chi tài khoản tiền gửi

thanh toán

49,4 5,4 51,8 4,8 48,6 5,1 2,4 4,9 -3,1 -6,0 -0,7

2.5. Cho vay hỗ trợ nhu cầu về nhà ở 128,4 14,2 141,6 13,1 117,7 12,4 13,2 10,3 -23,9 -16,9 -4,3

2.6. Cho vay bán lẻ khác 91,0 10,0 258,8 23,9 142,9 15,0 167,8 184,4 -115,9 -44,8 25,3

3. Nợ xấu tín dụng bán lẻ 3,5 4,3 9,4 0,8 5,1 5,7

(Nguồn: Báo cáo thường niên của SHB chi nhánh Quảng Ninh các năm 2012, 2013, 2014)

Cho vay CBCNV

Sản phẩm tín dụng bán lẻ này chiếm tỷ trọng tương đối ổn định trong cơ cấu dƣ nợ tín dụng bán lẻ của SHB chi nhánh Quảng Ninh, nhƣng xét về số tuyệt đối thì giảm với tốc độ giảm là 5% một năm. Cụ thể, năm 2013 giảm 5,2 tỷ đồng (tương đương 11%) so với năm 2012, năm 2014 tăng 0,6 tỷ đồng (tương đương 1,3%) so với năm 2013. Đặc điểm của sản phẩm này là đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống của CBCNV và/hoặc nhằm phát triển kinh tế phụ gia đình mà nguồn thu nợ là thu nhập thường xuyên của CBCNV. Thủ tục cho vay đơn giản, nhanh gọn nên đang dần đƣợc phát triển. Hơn nữa, đây là đối tƣợng có mức thu nhập ổn định và chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế ít hơn các đối tƣợng khách hàng khác nhƣ: công nhân, người lao động... nhân tố này làm cho rủi ro đối với việc cho vay về phía ngân hàng giảm. Trong điều kiện khó khăn về nguồn VHĐ và lãi suất tăng cao thì việc Chi nhánh phát triển loại hình cho vay này có thể đáp ứng tốt cả hai yếu tố là an toàn và lợi nhuận.

Đối với sản phẩm này, SHB chi nhánh Quảng Ninh mới chỉ áp dụng cho phần lớn các khách hàng là CBCNV của ngân hàng, chƣa áp dụng cho lƣợng khách hàng còn tiềm năng bên ngoài, đây là nhược điểm mà SHB cần từng bước khắc phục để tăng doanh số cho vay cũng nhƣ nguồn thu lợi nhuận từ sản phẩm này.

Cho vay mua ô tô

Qua bảng 3.6 ta thấy tỷ trọng sản phẩm tín dụng này đang có xu hướng giảm trong tổng dư nợ tín dụng bán lẻ với tốc độ tăng trưởng âm qua các năm. Nguyên nhân giảm của năm 2014 chủ yếu là do nguồn vốn ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng và người dân kỳ vọng vào năm 2015 thuế nhập khẩu xe ô tô có sự điều chỉnh nên họ đã hoãn kế hoạch mua xe. Là một tỉnh giáp biển, có trục đường quốc lộ 18, giao thông đi lại thuận tiện, có nhiều khu công nghiệp lớn, đời sống của người dân Quảng Ninh cũng nhờ thế mà đang được cải thiện trong một vài năm trở lại đây. Nhu cầu mua xe của dân cƣ cũng theo đó mà gia tăng. Lƣợng cầu thì nhiều, nhƣng nguồn vốn của ngân hàng còn hạn hẹp, phần lớn đã đƣợc đầu tƣ vào các dự án lớn, các khu công nghiệp trọng điểm nên việc cho vay mua ô tô còn chƣa đƣợc chú trọng nhiều. Trong thời gian tới, để phát triển và mở rộng lƣợng khách hàng thông qua dịch vụ NHBL thì SHB chi nhánh Quảng Ninh cần có kế hoạch về công tác huy động vốn và phân chia cơ cấu VHĐ cho các khoản vay phù hợp để phát triển được thị trường còn đầy tiềm năng này.

Một phần của tài liệu Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội, chi nhánh Quảng Ninh (Trang 72 - 82)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(137 trang)