CHƯƠNG 4: HỢP TÁC GIỮA EU VÀ VIỆT NAM
4.3 Thuận lợi và khó khăn sắp tới trong vấn đề hợp tác giữa bên
- EU và Việt Nam đạt được sự thống nhất về Hiệp định Thương mại Tự do (04/08/2015)
Hiệp định loại này là hiệp định đầu tiên mà EU đã đạt được với một nước đang phát triển. Do đó, sự tự do hóa có tính tham vọng và cân bằng đã đạt được – với
một giai đoạn chuyển đổi để Việt Nam có thể thích nghi – đã tạo ra một nền tảng mới nếu so với các Hiệp định khác của EU với các nước đang phát triển. Điều này đã cho thấy một niềm tin chung của EU và Việt Nam đó là thương mại có vai trò thiết yếu đối với sự tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và phát triển bền vững.
Bên cạnh việc xóa bỏ thuế quan, Việt Nam cũng sẽ gỡ bỏ hầu hết các loại thuế xuất khẩu. Hiệp định này cũng sẽ tạo ra những cơ hội tiếp cận thị trường mới trong lĩnh vực dịch vụ và đầu tư. Việt Nam đã đồng ý với việc tự do hóa thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, viễn thông, giao thông, bưu chính và chuyển phát nhanh. Trong lĩnh vực đầu tư, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường cho EU, như thông qua việc dỡ bỏ hoặc hạ bớt những hạn chế trong lĩnh vực sản xuất các mặt hàng thực phẩm hoặc đồ uống, cũng như trong các lĩnh vực phi thực phẩm.
Trong lĩnh vực mua sắm chính phủ, EU và Việt Nam đã thoả thuận về nguyên tắc phù hợp hoàn toàn với các quy định trong Hiệp định Mua sắm Chính phủ (GPA) của WTO, đạt được mức độ minh bạch tương đương với các Hiệp định Thương mại tự do khác của EU với các nước phát triển và đang phát triển tiên tiến hơn.
Hiệp định này cũng sẽ tăng cường việc bảo vệ những Chỉ dẫn Địa lý "GIs" đại diện cho những sản phẩm nông sản hàng đầu EU như rượu Champagne, pho-mai Parmigiano Reggiano, rượu Rioja, pho-mai Roquefort và rượu Whisky Xcốt-len.
Những Chỉ dẫn Địa lý của Việt Nam cũng sẽ được công nhận tương tự tại EU, tạo ra một khuôn khổ đầy đủ để thúc đẩy hơn nữa việc nhập khẩu những sản phẩm chất lượng như trà Mộc Châu hay cà phê Buôn Ma Thuột.
FTA này bao gồm một chương toàn diện và có nội dung cam kết mạnh về Thương mại và Phát triển Bền vững, bao trùm các vấn đề về lao động và môi trường có liên quan trong quan hệ thương mại giữa EU và Việt Nam. Những cam kết đối với những tiêu chuẩn lao động cốt lõi và các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đảm bảo cả hai bên tôn trọng những quyền cơ bản của người lao động. Ngoài ra, chương này cũng bao gồm những cam kết hỗ trợ việc bảo tồn và quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên (bao gồm động vật hoang dã, rừng và thủy hải sản). Những lĩnh vực như Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp và những cơ chế hợp tác thương mại có đạo đức và công bằng cũng được đặc biệt chú trọng trong chương này.
FTA này cũng sẽ thiết lập những cấu trúc chuyên biệt để đảm bảo việc thực thi đầy đủ chương này, bao gồm cả những cơ chế đảm bảo sự tham gia của các thành phần kinh tế, xã hội và môi trường ở cả EU và Việt Nam.
Hiệp định cũng sẽ bao gồm một mối liên kết có ràng buộc về mặt pháp lý với Hiệp định Đối tác và Hợp tác Toàn diện (PCA) trong đó chi phối mối quan hệ toàn diện giữa EU và Việt Nam, qua đó đảm bảo rằng nhân quyền, dân chủ, và pháp quyền là những thành phần chủ chốt trong mối quan hệ thương mai song phương của chúng ta.
- Đồng EURO
Quan hệ kinh tế Việt Nam - EU hiện nay ngày càng có chiều hướng tốt đẹp do đó sự ra đời của đồng EURO đã phần nào làm giảm bớt sự phụ thuộc vào đồng USD của Việt Nam, đồng thời Việt Nam thực hiện được chính sách mở cửa và đa dạng hoá và đa phương hoá trong quan tế quốc tế.
EU là đối tác quan trọng trong quan hệ kinh tế thương mại vì vậy đồng EURO ra đời phát huy tính tích cực của nó làm cho quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và EU ngày càng trôi chảy và thuận lợi hơn.
Khi đồng EURO ra đời các hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU sẽ trở nên dễ dàng hơn do giảm đi được những chi phí trung gian của khâu thanh toán, do cả khách hàng và người bán cũng có được những thuận lợi trong việc tìm hiểu thị trường mà không cần tới thử nghiệm trên thị trường đó, họ có thể so sánh được giá cả của mặt hàng trên nhiều thị trường của các nước Châu Âu khác nhau.
Ngoài ra khi đồng EURO ra đời Việt Nam sẽ xuất sang EU nhiều hơn. Trước đây, mặc dù quan hệ buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và EU đã liên tục phát triển nhưng những thuận lợi về mặt thanh toán là cơ sở tốt cho hoạt động này.
Thuận lợi của Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư: EU là khu vực có nhiều dự án đầu tư vào Việt Nam. Vì vậy, với việc ra đời của đồng EURO sẽ giúp cho các nhà đầu tư của cả hai phía dễ dàng so sánh và lựa chọn cơ hội đầu tư. Mặc dù cho tới nay đồng EURO chưa có biểu hiện tác động tới Việt Nam nhưng khi đồng EURO duy nhất tồn tại thì không thể bỏ qua vấn đề quan trọng này cho các dự án đầu tư.
Một thuận lợi nữa cho kinh tế Việt Nam đó là trong hoạt động của ngân hàng Việt Nam khi sử dụng đồng EURO: Hiện nay ở Việt Nam có 10 chi nhánh ngân hàng của các nước trong khối EU hoạt động, chiếm 40% tổng số chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở nước ta và có gần 30 văn phòng đại diện của các ngân hàng châu Âu hoạt động. Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đang có quan hệ đại lý, thanh toán, bảo lãnh, vay nợ, thương mại... với hàng trăm ngân hàng thuộc khối EU. Doanh số thanh toán mức vay nợ, và bỏ lãnh, phát hành thẻ tín dụng... của các ngân hàng Việt Nam với khu vực này chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số thanh toán và vay nợ quốc tế. Vì vậy, khi đồng EURO ra đời đã làm giảm đi các chi phí giao dịch hối đoái, thanh toán, giảm rủi ro về tỷ giá và lãi suất.
Cho tới hiện nay khi đồng EURO đang giảm giá thì Việt Nam trước mắt đang có lợi trong các hợp đồng vay nợ và buôn bán cũng như xuất nhập khẩu và đầu tư.
- Thúc đẩy các quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư
Cùng với việc ký kết EVFTA, Liên minh châu Âu sẽ công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho các đối tác kinh tế quan trọng khác, trước hết là Mỹ.
EU là thị trường nước ngoài lớn nhất cho các mặt hàng của Việt Nam, là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam. Việt Nam đã đạt thặng dư thương mại kỷ lục là 15,2 tỷ USD với EU, tương đương 17 lần mức thặng dư thương mại toàn cầu của Việt Nam. Lượng hàng hóa EU nhập khẩu vào Việt Nam cũng tăng 4,2%, ở mức
9,2 tỷ USD. Liên minh châu Âu đang ra khỏi khủng hoảng và từng bước phục hồi kinh tế. Điều này sẽ tạo động lực mới cho quan hệ kinh tế thương mại giữa EU-28 và Việt Nam.
Việt Nam là nước đầu tiên ở Đông Nam Á chủ động triển khai chiến lược hợp tác tổng thể với EU. Đây được coi là một trong những động lực giúp hai bên có được mối quan hệ đối tác vừa toàn diện, vừa then chốt. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng duy trì mối quan hệ tốt đẹp và hiệu quả với hầu hết các nước EU, đồng thời xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với một số thành viên như Anh, Tây Ban Nha… Quãng thời gian qua cũng chứng kiến nỗ lực vươn ra biển lớn để khẳng định vai trò và vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên toàn thế giới. Thành công của nhiệm kỳ 2 năm (2008-2009) làm uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, đảm nhận tốt vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010, tích cực tham dự nhiều diễn đàn đa phương với tiếng nói ngày càng có trọng lượng…, tất cả cho thấy sức hấp dẫn lan tỏa của một Việt Nam mở cửa để đổi mới và hội nhập. Xuất phát từ thực tế đó, EU luôn coi Việt Nam là một đối tác quan trọng trong khu vực, đồng thời mở rộng hợp tác toàn diện trên tất cả các mặt. Nhiều nước thành viên EU cũng bày tỏ mong muốn phát triển hơn nữa mối quan hệ song phương với Việt Nam để tranh thủ những cơ hội hợp tác và đầu tư.
Như vậy, với khuôn khổ hợp tác mới mà PCA tạo ra, Việt Nam và EU sẽ khai thác triệt để những vai trò tích cực của mỗi bên nhằm tăng cường can dự trên cơ sở những nguyên tắc của luật quốc tế. Xuất phát từ lợi ích chung, Việt Nam và EU sẽ tăng cường hợp tác trên các diễn đàn đa phương khu vực và thế giới. Ví dụ như đối với vấn đề an ninh – an toàn hàng hải, với kinh nghiệm cũng như tiềm lực của mình, EU có thể phát huy vai trò, tích cực tham gia các cơ chế đối thoại, giải quyết tranh chấp và đối phó thách thức như Diễn đàn An ninh khu vực (ARF)... Sự đan xen về lợi ích không chỉ giúp EU và Việt Nam xích lại gần nhau hơn, mà còn giúp khối này mở rộng ảnh hưởng trong bối cảnh môi trường an ninh toàn cầu xuất hiện ngày càng nhiều những thách thức phi truyền thống.
EU cũng có thể thông qua mối quan hệ với Việt Nam để can dự sâu hơn vào Đông Nam Á nói riêng, châu Á – Thái Bình Dương nói chung. Ngược lại, khi nâng tầm quan hệ với EU, Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng và tăng cường hơn nữa sự hiện diện về thương mại, đầu tư, văn hóa... ở các nước châu Âu. Cộng đồng đông đảo người Việt đang sinh sống ở các nước châu Âu chính là một trong những
“chất xúc tác” thúc đẩy quan hệ Việt Nam – EU. Với tiềm lực kinh tế, nguồn tài nguyên tri thức và chỗ đứng chính trị được cải thiện đáng kể, cộng đồng người Việt có thể trở thành một kênh đầu tư và chuyển giao công nghệ về nước, đồng thời là
“đầu cầu” tiếp cận với thị trường châu Âu giàu tiềm năng. Cũng có ý kiến còn cho rằng, với vị thế và uy tín đang được khẳng định mạnh mẽ, với quan hệ truyền thống trước đây, Việt Nam có thể phát huy vai trò là cầu nối giữa châu Âu “mới” và “cũ”, giữa Đông Âu và Tây Âu. Dù rằng đây mới chỉ là triển vọng lâu dài, nhưng chắc chắn rằng vào thời điểm hiện nay, cả Việt Nam và EU đang chứng kiến sự chuyển mình quan trọng trong quan hệ song phương một khi PCA được triển khai.
4.3.2 Khó khăn
- Đồng EURO ra đời Việt Nam cũng gặp phải không ít khó khăn:
Việt Nam từ trước tới nay tuy quan hệ thương mại phần lớn là với EU nhưng lại sử dụng chủ yếu đồng USD trong quan hệ thanh toán, vì vậy nên ngay cả người dân Việt Nam cũng không muốn thay đổi thói quen đó khi không có cơ sở để tin tưởng vào sự chắc chắn của đồng EURO nhất là trong trong thời kỳ chuyển đổi này.
Nền kinh tế Việt Nam còn quá nhỏ nên chưa thấy hết được những thuận lợi để tận dụng một cách triệt để, chủ quan trước những tác động tiêu cực nhỏ mà không hiểu rằng chỉ trong một thời gian ngắn nữa đó là một vấn đề không thể quan tâm thường xuyên.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam còn có tỷ lệ dự trữ ngoại tệ bằng đồng tiền của các nước Châu Âu quá nhỏ dẫn tới rủi ro về tỷ giá. Bởi vì khi đồng EURO duy nhất hoạt động thay cho toàn bộ các đồng tiền của các quốc gia thành viên thì lúc này đồng EURO sẽ có một sức mạnh tương đương với đồng USD và đồng JPY hiện nay. Nên nếu như Việt Nam không có một cơ cấu ngoại tệ hợp lý sẽ khó khăn trong việc thanh toán trực tiếp lại vừa có rủi ro cao về tỷ giá hối đoái trong các quan hệ tài chính do chỉ phụ thuộc một loại ngoại tệ mạnh là đồng USD.
Khó khăn nữa đối với Việt Nam đó là ngay cả những nhà xuất nhập khẩu hiện nay cũng chưa xác định đúng tính cần thiết trong việc nghiên cứu những kiến thức cơ bản để hiểu biết về đồng EURO để thực hiện tốt hơn các hoạt động xuất nhập khẩu của mình, không có sự quan tâm chính đáng với đồng EURO các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam sẽ bỏ qua những cơ hội để tăng sản lượng xuất khẩu của mình mà cần phải bỏ ra chi phí nào.
Như vậy, Việt Nam cần phải có những nhìn nhận đúng đắn trước những tác động của đồng EURO đối với nền kinh tế Việt Nam. Tận dụng mọi cơ hội trong tất cả mọi lĩnh vực, chủ động ứng phó với tất cả những tác động ngược trở lại của đồng EURO. Quan trọng nhất là trong hoạt động ngân hàng cần phải có những cơ cấu ngoại tệ thích hợp giữa các đồng tiền để giảm bớt được những rủi ro tiền tệ, rủi ro tỷ giá, tránh những tác động tiêu cực mạnh làm suy sụp nền kinh tế, nhất là hiện tại nền kinh tế Việt Nam còn đang nghèo và đang phát triển.
Bên cạnh đó, những rào cản thương mại được triển khai như giải pháp bảo hộ mậu dịch cũng gây khó khăn cho quan hệ Việt Nam – EU. Còn nhớ năm 2007, EU quyết định áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng giày da xuất khẩu của Việt Nam, khiến các doanh nghiệp trong nước và cả người tiêu dùng châu Âu một phen lao đao. Sau bao nỗ lực đấu tranh, mức thuế mang tính bảo hộ này cũng đã được dỡ bỏ từ tháng 4/2011. Tuy vậy, các doanh nghiệp giày da xuất khẩu của Việt Nam vẫn phải chịu một năm kiểm soát và đối mặt với thách thức từ sự cạnh tranh khốc liệt ở thị trường châu Âu. Việc EU áp thuế chống bán phá giá cho thấy những khác biệt trong chính sách thương mại của mỗi bên, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu kỹ thị trường, hiểu về luật pháp, tuân thủ nghiêm tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và có giải pháp duy trì hợp lý tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.
Và hẳn nhiên là chỉ có tăng cường hiểu biết và đối thoại mới có thể giúp hai bên vượt qua khác biệt, khắc phục bất đồng và duy trì quan hệ đúng hướng, phù hợp với lợi ích chung. Rõ ràng, khi mối quan hệ Việt Nam - EU phát triển ngày càng sâu rộng, thì nó cũng có thể phải đối mặt với thách thức nảy sinh. Điều này lý giải tại sao các nhà lãnh đạo hai bên đã nỗ lực hiện thực hoá PCA để tạo ra khuôn khổ mới cho một “sân chơi” bình đẳng hơn.
Như vậy, với khuôn khổ hợp tác mới mà PCA tạo ra, Việt Nam và EU sẽ khai thác triệt để những vai trò tích cực của mỗi bên nhằm tăng cường can dự trên cơ sở những nguyên tắc của luật quốc tế. Xuất phát từ lợi ích chung, Việt Nam và EU sẽ tăng cường hợp tác trên các diễn đàn đa phương khu vực và thế giới. Ví dụ như đối với vấn đề an ninh – an toàn hàng hải, với kinh nghiệm cũng như tiềm lực của mình, EU có thể phát huy vai trò, tích cực tham gia các cơ chế đối thoại, giải quyết tranh chấp và đối phó thách thức như Diễn đàn An ninh khu vực (ARF)... Sự đan xen về lợi ích không chỉ giúp EU và Việt Nam xích lại gần nhau hơn, mà còn giúp khối này mở rộng ảnh hưởng trong bối cảnh môi trường an ninh toàn cầu xuất hiện ngày càng nhiều những thách thức phi truyền thống.
EU cũng có thể thông qua mối quan hệ với Việt Nam để can dự sâu hơn vào Đông Nam Á nói riêng, châu Á – Thái Bình Dương nói chung. Ngược lại, khi nâng tầm quan hệ với EU, Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng và tăng cường hơn nữa sự hiện diện về thương mại, đầu tư, văn hóa... ở các nước châu Âu. Cộng đồng đông đảo người Việt đang sinh sống ở các nước châu Âu chính là một trong những
“chất xúc tác” thúc đẩy quan hệ Việt Nam – EU. Với tiềm lực kinh tế, nguồn tài nguyên tri thức và chỗ đứng chính trị được cải thiện đáng kể, cộng đồng người Việt có thể trở thành một kênh đầu tư và chuyển giao công nghệ về nước, đồng thời là
“đầu cầu” tiếp cận với thị trường châu Âu giàu tiềm năng. Cũng có ý kiến còn cho rằng, với vị thế và uy tín đang được khẳng định mạnh mẽ, với quan hệ truyền thống trước đây, Việt Nam có thể phát huy vai trò là cầu nối giữa châu Âu “mới” và “cũ”, giữa Đông Âu và Tây Âu. Dù rằng đây mới chỉ là triển vọng lâu dài, nhưng chắc chắn rằng vào thời điểm hiện nay, cả Việt Nam và EU đang chứng kiến sự chuyển mình quan trọng trong quan hệ song phương một khi PCA được triển khai.