Phát triển kinh tế và vai trò của hệ thống chính trị trong quá trình đó ở nước ta hiện nay

Một phần của tài liệu Nghiên cứu dịch vụ chăm sóc khách hàng đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình phát triển kinh tế ở quảngtrị hiện nay (Trang 22 - 34)

Chương 1. VAI TRÒ CỦA ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1.2. Phát triển kinh tế và vai trò của hệ thống chính trị trong quá trình đó ở nước ta hiện nay

Trước hết, chúng ta có thể khẳng định rằng, lựa chọn và phát triển kinh tế đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử. Song, cũng phải thấy rằng, đó là quá trình đầy khó khăn và phức tạp.

Sau 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, Việt Nam chúng ta đã đạt được thành tựu to lớn và rất quan trọng trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Việt Nam đã thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, đã khắc phục được nạn lạm phát có lúc lên trên 700% (năm 1986) xuống mức lạm phát 12% (năm 1995) và sau đó. Cho đến nay lạm phát chỉ còn 1 chữ số. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2001 đạt khoảng 6,8%, cao hơn mức 6,7% năm 2000 và đứng thứ hai thế giới (sau Trung Quốc). Cái đáng lưu ý là xu hướng tăng trưởng kinh tế quý sau cao hơn quý trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng công nghiệp đạt 38,0%, dịch vụ đạt 39,0%; nông - lâm - thuỷ sản còn 23%

(năm 2000 là36,6%; 39,1%; 24,3%). Năm 2002, tốc độ tăng trưởng GDP của ta ước đạt 7,5%, giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản tăng 4,8%, công nghiệp tăng 13%, kim ngạch xuất khẩu tăng 14-16%, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 17% và bằng 32% GDP.

Năm 2003, tuy chúng ta gặp một số khó khăn, nhưng nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục phát triển. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,24% (cao hơn so với năm 2001 là 6,9%, năm 2002 là 7,04%, trong đó khu vực công nghiệp tăng 10,28%), nông nghiệp tăng 3,19%, dịch vụ tăng 6,63%).

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng nhanh, từ 36,7% (năm 2000) lên 38,13%

(năm 2001), 38,55% (năm 2002) và lên 40% (năm 2003); những giá trị tuyệt đối của khu vực này đều tăng so với những năm trước. Tỷ trọng khu vực dịch vụ ổn định ở mức 38,74%; 38,63%; 38,46%; 38,01% trong các năm tương ứng.

Tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước có giảm dần do quá trình cổ phần hoá và phát triển mạnh khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nhưng vẫn ở mức 38%

và điều quan trọng hơn la kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo. Tỷ trọng kinh tế ngoài quốc doanh chiếm trên 48% GDP và ngày một tăng nhanh do tác động của luật doanh nghiệp và kinh tế có vốn FDI đạt khoảng 14% GDP (năm 2001 là 13,75% và năm 2002 là13,91%) [67, tr.85].

Quá trình thực hiện đường lối phát triển kinh tế mà Đảng ta đã đề ra qua 20 năm qua là đáng ghi nhận: Chúng ta không chỉ nâng cao dần năng suất lao động, mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo về lương thực cho cả nước. Chúng ta đã mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với bên ngoài, thu hút được các nguồn vốn và kỹ thuật, công nghệ hiện đại của nước ngoài , tận dụng được kinh nghiệm của các nước đi trước cho quá trình phát triển kinh tế.

Chúng ta cũng đã phá bỏ thế bị bao vây, cô lập về kinh tế, tạo ra thế và lực mới trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta đã bộc lộ những mặt hạn chế, mâu thuẫn với bản chất của CNXH. Đó là khuynh hướng tự phát TBCN, sự phân hoá giàu nghèo có chiều hướng gia tăng, xuất hiện tâm lý sùng bái đồng tiền, lối sống thực dụng, hạ thấp giá trị đạo đức, tinh thần, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, các tệ nạn xã hội nảy sinh, môi trường sinh thái đang bị đe doạ...

Phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần thì vai trò của Nhà nước là phải tạo ra một “sân chơi bình đẳng” cho các thành phần kinh tế và hướng các thành phần kinh tế theo hướng tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và

công bằng xã hội. Tạo ra một môi trường tự do bình đẳng trong cạnh tranh là sự cần thiết nhưng rõ ràng đã đặt thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa trước những thử thách mang tính sống còn bởi vì, trong lúc thành phần kinh tế tư bản ở nước ta đang ở thời kỳ “sung sức” mà thành phần kinh tế XHCN thì lại mới ra đời và thực tế vẫn còn rất non yếu. Mặt khác, sau mấy thập kỷ xây dựng và phát triển kinh tế, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến nhất định, nhưng sản xuất nhỏ vẫn là phổ biến. Sản xuất nhỏ như V.I.Lênin đã từng cảnh báo, là hàng ngày, hàng giờ tự phát TBCN. Như vậy nền kinh tế nước ta đang tiềm ẩn khả năng tự phát TBCN và trên thực tế chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ chệch hướng XHCN. Đồng thời, với sự chống phá của các thù lực bên ngoài với những chiêu bài và hình thức tinh vi cũng đặt ra cho chúng ta không ít những thách thức.

Ngoài ra xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã tạo nên nhiều thách thức đối với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, làm xói mòn quyền lực của Nhà nước nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Quá trình hội nhập kinh tế đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề phải xử lý, liên quan đến độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đến hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội.

Tính độc lập của nhiều quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự gia tăng mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, sự hạn chế thẩm quyền và khả năng hành xử theo ý chí riêng của nhiều quốc gia. Sự ổn định của hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội sẽ luôn phải chịu áp lực của đòi hỏi đổi mới để phù hợp với quá trình mở cửa và hội nhập. Điều này được thể hiện đặc biệt rõ nét trong lĩnh vực kinh tế. Tham gia vào các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và trên phạm vi toàn cầu để thu hút đầu tư của các đối tác bên ngoài, các chính phủ phải nhượng một phần quyền quyết định, quản lý sản xuất kinh doanh, kiểm soát quá trình lưu thông của các dòng tài chính, đầu tư cho các thể chế quốc tế và các đối tác. Hội nhập kinh tế mang lại nhiều vận hội và cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các nước chậm phát triển như nước ta.

Thời cơ đan xen lẫn nguy cơ. Chúng ta càn phải tham gia vào toàn cầu hoá, chủ động và tích cực hội nhập khu vực và quốc tế để tận dụng được sức mạnh của thời đại và đưa đất nước tiến lên. Nhưng, với tính phức tạp của quá trình toàn cầu hoá, với những thách thức đặt ra liệu chúng ta có thể giữ vững được bản sắc của mình, vẫn còn là mình không khi “các luật chơi” trong toàn cầu hoá hiện nay, về cơ bản là do các lực lượng tư bản chủ nghĩa thảo ra; khi các thiết chế kinh tế tài chính quốc tế hiện thời là sản phẩm chính của CNTB và mấy chục năm qua vẫn hoạt động dưới sự chi phối của CNTB? Liệu chúng ta có đủ khôn ngoan hay không trước những thủ đoạn cạnh tranh của đối tác?

Chúng ta có thể phát triển được nền kinh tế mà vẫn bảo đảm được tính định hướng xã hội chủ nghĩa? Từ đó, vấn đề độc lập trên lĩnh vực kinh tế, độc lập trên lĩnh vực chính trị sẽ được giải quyết như thế nào?

Từ những phân tích ở trên cho thấy, quá trình phát triển nền kinh tế ở nước ta diễn ra trong bối cảnh hết sức phức tạp, cả tác động bên ngoài và cả yếu tố nội sinh có thể làm cho nền kinh tế ấy chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhận thức rõ điều này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã cảnh báo:

“Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hoà bình” do các thế lực thù địch gây ra - đến nay vẫn diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào” [18, tr.15].

Vấn đề đặt ra cho phát triển kinh tế của đất nước là nhận thức được xu thế phát triển của thời đại, mà quan trọng hơn là xây dựng được chiến lược, đưa ra được hệ thống giải pháp phù hợp với tình hình quốc tế, và điều quan trọng nhất là phải phù hợp với trình độ phát triển của bản thân đất nước mình.

Để phát triển kinh tế thì không chỉ có quyết tâm, ý chí chính trị, mà còn phải có thực lực, đường lối, chiến lược, sách lược hợp lý và đặc biệt là phải hiện thực hoá được đường lối ấy. Để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo

định hướng xã hội chủ nghĩa thì “Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế”. Chính vì vậy, đảm bảo vai trò lãnh đạo, định hướng của chính trị trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta là vấn đề không thể thiếu được.

Trong điều kiện phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, chính trị được thực hiện thông qua sự lãnh đạo của Đảng và năng lực tổ chức, quản lý của Nhà nước, trở thành nhân tố định hướng cho sự phát triển kinh tế. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, nhằm thực hiện thành công những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội được thông qua tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam.

Vai trò của chính trị trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay được thể hiện ở những phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất: chính trị lãnh đạo sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế thế giới.

Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta đã tuân thủ quy luật khách quan. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân.

Như vậy, trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vai trò của chính trị là định hướng tổ chức và quản lý nền kinh tế thị trường vận động theo quỹ đạo XHCN. Để làm được điều này, Đảng và Nhà nước phải có chủ trương, chính sách đúng đắn để phát triển kinh tế nhà nước, làm cho thực

lực kinh tế nhà nước phát triển mạnh mẽ, có đủ sức để có thể giữ được vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, trong những năm qua, chúng ta đã tiến hành đổi mơi cơ chế, hoàn thiện chính sách để từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước.

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở chỗ, nó mở đường và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế. Nó là công cụ để Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế theo định hướng XHCN, tham gia vào việc bảo đảm sự ổn định kinh tế - xã hội và góp phần khắc phục mọi khuyết tật của kinh tế thị trường.

Mặt khác, kinh tế nhà nước còn có vai trò mở đường, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng lâu dài của nền kinh tế. Kinh tế nhà nước phải thực sự là thành phần giữ vai trò chủ đạo, có khả năng “thu hút” các thành phần kinh tế khác. Các thành phần kinh tế khác trở thành những thành phần vệ tinh cho thành phần kinh tế nhà nước.

Kinh tế nhà nước là cơ sở của chế độ mới, là “điều kiện thế chấp” của CNXH.

Từ việc nhận thức rõ yêu cầu phải phát triển kinh tế nhà nước làm cho thành phần kinh tế này xứng đáng với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, chúng ta đã chủ trương thúc đẩy thành phần kinh tế phát triển bằng cách tập trung mọi nguồn lực hiện có trong tay nhà nước vào việc xây dựng và phát triển một số ngành, doanh nghiệp trọng điểm...

Ngoài kinh tế nhà nước, Đảng ta còn chủ trương phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt.

Chúng ta đã chuyển đổi hợp tác xã cũ theo luật hợp tác xã đạt hiệu quả thiết thực. Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và quản lý, mở rộng thị trường, ứng dụng công nghệ mới, phát triển vốn tập thể, giải quyết nợ tồn đọng của hợp tác xã cũ. Kinh tế cá thể và tiểu chủ ở nông thôn và thành thị được Nhà nước tạo điều kiện để phát triển.

Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm; khuyến khích hợp tác, liên doanh với nhau và với doanh nghiệp nhà nước, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần cho người lao động.

Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước ngày càng phát triển đa dạng.

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng.

Để sử dụng các thành phần kinh tế một cách có hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành “đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau” [18, tr.188].

Đảng ta chủ trương phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp trên cơ sở hợp tác và cạnh tranh bình đẳng. Phát triển mạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ, từng bước hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.

Bên cạnh chủ trương nhất quán là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, quan điểm của chúng ta là gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Độc lập, tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.

Chủ trương của Đảng là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ theo định hướng XHCN trong điều kiện mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, làm cho nền kinh tế phát triển

mạnh mẽ theo định hướng XHCN cần được xem là một trong những tiêu chí đánh giá tính đúng, sai, hiệu quả của chính sách đối ngoại của Đảng. Độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để bảo đảm sự bền vững của độc lập, tự chủ về chính trị. Điều đó được quy định bởi “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”. Không thể có độc lập, tự chủ về chính trị, nếu chúng ta lệ thuộc về kinh tế. Độc lập, tự chủ về kinh tế được đặt trong mối quan hệ biện chứng với độc lập, tự chủ về các mặt khác, tạo thành sự độc lập, tự chủ và sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Độc lập, tự chủ về kinh tế cũng có là điều kiện cần thiết để bảo đảm vững chắc định hướng XHCN, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong công cuộc phát triển kinh tế, thực hiện CNH, HĐH đất nước, giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ môi trường.

Trong thời đại ngày nay, chúngta cần phải thay đổi quan niệm về độc lập, tự chủ trong kinh tế. Trước đây, độc lập, tự chủ được hiểu là phải tự sản xuất lấy những sản phẩm để phục vụ cho tiêu dùng trong nước, hợp tác với nước ngoài chỉ hạn chế ở mức độ cần thiết và chỉ với một khu vực kinh tế – với các nước XHCN. Nói cách khác, độc lập tự chủ khi ấy được đồng nghĩa với “Bế quan toả cảng, tự cấp tự túc”.

Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, chúng ta đã ý thức được rằng kinh tế mạnh là tiền đề, là điều kiện bảo đảm cho sự độc lập, tự chủ vè chính trị. Việc giữ vững độc lập tự chủ không chỉ bằng cách phát triển kinh tế theo kiểu “khép kín, đóng cửa” mà trái lại, bằng chủ trương xây dựng nền kinh tế mở. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thư IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế Quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác Quốc tế, bảo đảm lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” [18, tr.120]. Chủ động hội nhập kinh tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đã đem lại chi chúng ta nhiều kết quả :

Một phần của tài liệu Nghiên cứu dịch vụ chăm sóc khách hàng đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình phát triển kinh tế ở quảngtrị hiện nay (Trang 22 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)