Vai trò của ngành ngoại thương

Một phần của tài liệu MỘT số vấn đề PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN bố NGÀNH DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM trường quốc học huế (Trang 23 - 27)

Vai trò của xuất khẩu:

- Xuất khẩu thu ngoại tệ tạo ra nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu và tích lũy phát triển sản xuất.

- Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như là yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trưởng kinh tế, làm cho sản lượng sản xuất của quốc gia sẽ tăng thông qua mở rộng với thị trường quốc tế. Việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu tạo phản ứng dây chuyền giúp các ngành kinh tế khác phát triển theo, kết quả là tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả.

- Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất và

nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường thế giới về quy cách, chất lượng sản phẩm thì một mặt phải đổi mới trang thiết bị phục

vụ sản xuất, một mặt người lao động phải nâng cao tay nghề, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến.

- Xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước.

- Đẩy mạnh phát triển xuất khẩu có tác động tích cực và có hiệu quả đến nâng cao mức sống của nhân dân.

- Xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước.

Vai trò của nhập khẩu:

- Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa đất nước.

- Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định.

- Góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Nhập khẩu vừa thỏa mãn nhu cầu trực tiếp về hàng tiêu dùng đồng thời đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động đồng thời qua đó tác động tích cực lại công tác xuất khẩu.

- Nhập khẩu tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho hoạt động sản xuất trong nước. Hàng hóa nhập khẩu càng đa dạng và chất lượng thì thì đòi hỏi các hoạt động sản xuất trong nước phải luôn cải tiến chất lượng, mẫu mã, giá cả để có thể

cạnh tranh.

III.2.2. Các nguồn lực phát triển ngoại thương nước ta

Lợi thế:

Ở nước ta khi đánh giá các nguồn lực sản xuất có lợi thế so sánh để phát triển kinh tế đối ngoại, người ta thường đề cập đến 3 nguồn lực cơ bản: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý thuận lợi của đất nước.

Lợi thế về vị trí địa lý:

Việt Nam nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải và hàng không quốc tế. Ven biển, nhất là từ Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu tàu bè có thể cập bến an toàn quanh năm. Sân bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị trí lý tưởng, cách đều thủ đô các thành phố quan trọng trong vùng Đông Nam Á. Đường bộ, đường sông đã nối 3 nước Đông Dương thành thế chiến lược kinh tế, quân sự thuận lợi. Điều này tạo khả năng cho Việt Nam phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau trong hoạt động dịch vụ trong đó có hoạt động ngoại thương. Nhất là nước ta lại nằm trong khu vực phát triển kinh tế với tốc độ tăng GDP từ 7-9%/năm trong vài ba thập kỷ trở lại đây tạo môi trường năng động cho nước ta hợp tác, mở rộng quan hệ kinh tế ngoại thương và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên:

- Khí hậu nhiệt đới gió mùa mưa nắng điều hòa, đất đai đa dạng, màu mỡ cho phép chúng ta phát triển nông lâm sản xuất khẩu có hiệu quả cao như gạo, cao su, gỗ và các nông sản nhiệt đới khác.

- Chiều dài bờ biển 3.260km với nhiều vũng, vịnh, bãi tôm, cá, ngư trường trọng điểm, mạng lưới sông suối và ao hồ, kênh rạch dày đặc cho phép phát triển ngành thủy sản xuất khẩu.

- Với nguồn khoáng sản đa dạng, dồi dào là cơ sở để phát triển nhiều ngành công nghiệp tạo nguồn hàng xuất khẩu thu ngoại tệ. Dầu mỏ hiện nay là nguồn tài nguyên mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể, sản lượng khai thác hàng năm gia tăng và trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta.

Lợi thế về lao động:

- Tính đến năm 2014 dân số nước ta đạt 90,7 triệu người, trong đó số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế là 53,0 triệu người. Lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, khoảng 0,16 USD/ 1 giờ lao động, trong khi đó ở Nhật là 23 USD/1 giờ lao động. Điều đó tạo ra lợi thế cho Việt Nam khi tham gia vào phân công lao động quốc tế.

- Người Việt Nam có truyền thống lao động cần cù, có tinh thần vượt khó và đoàn kết cao, thông minh sáng tạo, có khả năng nắm bắt khoa học kỹ thuật hiện đại và ứng dụng nó, có khả năng thích ứng với những tình huống phức tạp.

- Năng suất lao động của Việt Nam liên tục tăng trong thời gian qua, bình quân đạt 3,7%/năm trong giai đoạn 2005 - 2014, góp phần thu hẹp dần khoảng cách so với năng suất lao động của các nước trong khu vực.

Ngoài 3 lợi thế trên thì hoạt động ngoại thương nước ta còn có một số thuận lợi sau:

Chính trị – xã hội ổn định

Việt nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị – xã hội ổn định. Tổ chức tư vấn Rủi ro Kinh tế và chính trị (PERC) xếp Việt Nam ở vị trí thứ nhất về khía cạnh ổn định chính trị xã hội kể từ sau sự kiện 11/9 ở nước Mĩ.

Đổi mới cơ chế quản lí hoạt động ngoại thương và tham gia nhiều tổ

chức thương mại, kí kết nhiều Hiệp định thương mại quốc tế.

- Xoá bỏ được cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, xây dựng môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, góp phần khơi dậy được mọi tiềm năng, sức sáng tạo, tính chủ động của các đơn vị kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế.

- Từ sau Đổi mới đến nay Việt Nam đã tích cực tham gia nhiều tổ chức kinh tế khu vực, quốc tế và kí kết nhiều Hiệp định thương mại song phương, đa phương giúp nước ta đẩy mạnh hoạt động ngoại thương.

Những hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển của ngoại thương:

- Diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người của ta thấp so với bình quân của thế giới, chỉ khoảng 0,1 ha/ người. Sản lượng lương thực có cao nhưng trước hết phải đảm bảo nhu cầu của trên 90 triệu dân nên không thể tạo ra một nguồn tích lũy lớn cho những đòi hỏi cao hơn của sự phát triển kinh tế.

- Về tài nguyên tuy có phong phú nhưng phân bố tản mạn. Giao thông vận tải kém nên khó khai thác, trữ lượng chưa xác. Tài nguyên rừng, biển, thủy sản bị khai thác quá mức mà không được bảo vệ, phục hồi đúng mức.

- Vị trí địa lý đẹp nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém, các hải cảng ít và nhỏ, đường sá và phương tiện giao thông lạc hậu.

- Trình độ quản lý kinh tế, xã hội kém, bộ máy chính quyền kém hiệu quả, quan liêu, tham nhũng; chính sách, pháp luật không rõ ràng, thiếu đồng bộ, lại hay thay đổi gây cản trở cho quá trình đổi mới kinh tế.

- Trình độ tay nghề và tác phong công nghiệp của công nhân còn thấp nên năng suất lao động thấp, chất lượng hàng hóa chưa cao. Hiện nay năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 1/18 năng suất lao động của Singapore; bằng 1/6 của Malaysia;

bằng 1/3 của Thái Lan và Trung Quốc.

- Công nghệ và trang thiết bị của nhiều ngành kinh tế Việt Nam còn ở trình độ thấp, hàng hóa của Việt Nam chưa mang tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Một phần của tài liệu MỘT số vấn đề PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN bố NGÀNH DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM trường quốc học huế (Trang 23 - 27)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(63 trang)
w