MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

Một phần của tài liệu Quản trị chất lượng (Trang 30 - 33)

QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

BÀI 5. MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

NGUYEÂN LYÙ QCS

Khi tiến hành hội thảo trước Liên hợp các nhà khoa học và kỹ sư ở Nhật, tiến sĩ U.E.Deming đã nêu lên chu trình quản trị chất lượng gồm các giai đoạn: “Nghiên cứu thị trường − thiết kế − sản xuất − tiêu thụ” (M – P – P – C) sau đó lại bắt đầu một chu trình khác trên cơ sở kinh nghiệm thu được trong chu trình trước, không ngừng nâng cao chất lượng và hoàn thiện liên tục.

Hình 10 : Chu trình Deming (P – D – C – A)

A P

C D Q

T

http://www.ebook.edu.vn 27 Plan: Lập kế hoạch; Do: Thực hiện; Check: Kiểm tra; Action: Hành động Theo giáo sư K.Ishikawa: giữa quản trị chất lượng ở Nhật, Mỹ và Tây Âu có nhiều điểm khác nhau; sở dĩ như vậy, một phần do những đặc điểm văn hóa − xã hội của các dân tộc khác nhau. Hoạt động quản trị chất lượng không thể tiến hành tách rời những điều kiện văn hóa − xã hội cụ thể, nên ông đưa ra mô hình quản trị gồm 6 tổ hợp biện pháp như hình 11.

Xác định muùc tieõu và nhiệm

vuù

Xác định các phương pháp Thực hiện

các tác động quản lý thích hợp

Kieồm tra kết quả các

coõng vieọc

Huấn luyện và đào tạo cán bộ

Thực hiện các công

vieọc

A P

Ch Do

Hình 11 : Vòng quản trị của K.Ishikawa

MOÂ HÌNH QCS

1. Xác định các mục tiêu và nhiệm vụ

Để xác định mục tiêu của nhà máy xí nghiệp cần phải xác định rõ ràng những điểm xuất phát của nhà máy. Không xác định được mục tiêu thì không thể xác định được nhiệm vụ.

Khi xác định mục tiêu, người lãnh đạo phải luôn luôn hình dung bức tranh tổng quát :

ƒ Mức giảm số lượng khuyết tật.

ƒ Định mức sản xuất.

http://www.ebook.edu.vn 28 Sau khi xác định được mục tiêu thì các nhiệm vụ trở nên rõ ràng và phải thể hiện bằng số liệu cụ thể, có luận chứng logic.

Mặt khác phải giải thích cụ thể cho cán bộ, công nhân về các chỉ tiêu cụ thể như: số nhân lực, chi phí, lợi nhuận, sản lượng, thời gian cung ứng …

2. Xác định các phương pháp đạt mục tiêu

Sau khi đã xác định được mục tiêu và nhiệm vụ, cần phải xác định, lựa chọn phương pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đó cách tốt nhất.

Xác định phương pháp có thể coi ngang với tiêu chuẩn hoá. Tức là: khi xác định một phương pháp ta phải tiêu chuẩn hoá nó, rồi sau đó áp dụng phương pháp đó trong lý luận và thực tiễn.

Trong QCS không chỉ đơn thuần đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và đòi hỏi thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Do đó cần phải hiểu rõ quá trình để làm chủ nó, đồng thời phải xây dựng những phương pháp giải quyết vấn đề tốt hơn.

Trong QCS thường sử dụng các công cụ như sơ đồ nhân quả, biểu đồ Pareto để tìm ra các yếu tố nguyên nhân, phân tích, lựa chọn các nguyên nhân chính và đề ra các biện pháp giải quyết thích hợp nhằm nâng cao chất lượng công việc, chất lượng sản phẩm.

3. Huấn luyện đào tạo cán bộ

Cán bộ lãnh đạo của nhà máy, xí nghiệp chịu trách nhiệm về việc đào tạo huấn luyện cán bộ công nhân trong đơn vị mình.

Nội dung huấn luyện không chỉ hạn chế ở các hội nghị phổ biến phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của nhà máy mà phải chú trọng đến việc huấn luyện đào tạo những kiến thức kinh tế kỹ thuật như cách xây dựng các định mức, quản lý số lượng, chất lượng, các kỹ năng về kỹ thuật sản xuất, phương pháp gia công …

Quản trị trên tinh thần nhân văn, dựa trên niềm tin vào con người và những phẩm chất tốt đẹp của họ. Hệ thống quản trị lý tưởng là một hệ thống trong đó tất cả mọi người được đào tạo tốt, có thể tin tưởng vào mọi người và không cần phải kiểm tra thái quá.

4. Triển khai thực hiện các công việc

Trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong quản trị sản xuất, quản trị chất lượng tồn tại hai vấn đề: mệnh lệnh − bắt buộc hay tự giác − tự nguyện để đạt kết quả tối ưu. K.Ishikawa nhấn mạnh: nguyên tắc tự nguyện trong quản trị chất lượng là yếu tố quyết định mức chất lượng của sản phẩm. Các quy chế, các tiêu chuẩn không phải luôn luôn hoàn hảo. Chỉ có thể, khi trình độ trách nhiệm của

http://www.ebook.edu.vn 29 cán bộ công nhân được nâng cao mới giúp bù trừ những phần chưa hoàn hảo của các tiêu chuẩn và quy chế.

5. Kiểm tra kết quả các công việc

Nếu như mọi nguyên công, mọi bước công việc đều diễn ra phù hợp với những nhiệm vụ dự định và thỏa mãn các yêu cầu của tiêu chuẩn, thì không cần một sự can thiệp nào. Nhưng khi xảy ra những hiện tượng bất thường, một trật tự bị vi phạm, người lãnh đạo, người chỉ đạo phải can thiệp. Chính vì vậy phải kiểm tra để phát hiện những sai lệnh ấy.

Do đó cần kiểm tra các nguyên nhân, kiểm tra các kết quả hay nói cách khác kiểm tra các yếu tố trong giản đồ nhân quả.

6. Thực hiện những tác động quản trị thích hợp

Thực hiện những tác động quản trị thích hợp, điều quan trọng là áp dụng những biện pháp tránh những sai lệch lặp lại.

Như vậy, loại bỏ những yếu tố nguyên nhân gây nên những sai lệch, sửa chữa, ngăn ngừa các sai lệch ấy lặp lại, đó là hai hình thức tác động khác nhau.

Vì vậy trong quản trị chất lượng hiện nay người ta sử dụng các công cụ thống kê để kiểm tra và ngăn chặn nguyên nhân của những tình trạng kém chất lượng trong mọi khâu của quy trình. Đây là điều khác biệt giữa QCS (quản trị chất lượng sản phẩm) và KCS (kiểm tra chất lượng sản phẩm).

Một phần của tài liệu Quản trị chất lượng (Trang 30 - 33)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(79 trang)