Những biểu hiện đặc trng của cái tôi cô độc trong Thơ mới

Một phần của tài liệu Cái tôi cô độc trong thơ mới 1932 1945 (Trang 28 - 47)

Chơng 2: Cái tôi cô độc, một biểu hiện đặc biệt của cái tôi trữ tình

2.2. Những biểu hiện đặc trng của cái tôi cô độc trong Thơ mới

đứng trớc loài ngời mênh mông, hoặc họ không tự xng, hoặc họ tự ẩn mình sau chữ ta, mỗi chữ có thể chỉ chung cho nhiều ngời. Họ phải cầu cứu đoàn thể để trốn cô đơn” [18, 45]. Con ngời cha có ý thức về sự tồn tại của mình nh một cá thể độc lập. Đến thời đại Thơ mới “thời đại của chữ tôi” ý thức cá

nhân trỗi dậy mãnh liệt. Lúc này, văn hoá phơng Tây (đặc biệt là văn hoá

Pháp) ảnh hởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống Việt Nam. Những giá trị truyền thống bị đảo lộn, Tiếng Việt bị khinh rẻ, các thế hệ nhà thơ kế tiếp truyền thống cha ông đứng trớc một nghịch cảnh vô cùng đau đớn. Đó là nghịch cảnh của sự lựa chọn giữa cái mới với nền văn hoá truyền thống lâu đời của dân tộc.

Họ có nguy cơ bị mất gốc hoàn toàn, thậm chí bị cắt lìa khỏi truyền thống. Là những nhà thơ của đất Việt, con ngời Việt Nam từ bao đời nay vốn giàu tinh thần dân tộc, coi trọng tính cộng đồng. Trớc hoàn cảnh hiện tại, họ mang một tâm trạng lỡng phân. Trong chiều sâu ý thức, họ cảm thấy bất lực, bế tắc, không có cách xử lý. Không làm đợc những gì ngoài cuộc đời, họ dồn tất cả

tâm huyết vào thơ ca. Một nền Thơ mới ra đời và chiếm lĩnh thi đàm. Nhng

khi cái Tôi cá nhân trỗi dậy mãnh liệt, ý thức cá nhân càng sâu sắc, các nhà Thơ mới càng cảm thấy có điều gì không ổn trong cách c xử của mình. Các nhà Thơ mới có lúc đã từng xem mỗi ngời là một “thế giới riêng tây”, “một chiếc đảo”, “một dặm biển”. Nhng trong tâm khảm, họ cảm thấy mình là kẻ cô độc, lạc loài giữa thế giới sống động này. Nhà thơ Pháp L. Aragon đã từng viết: “Sống trên đất nớc mình mà nh ngời khách lạ”. Đó cũng chính là tâm trạng của các nhà Thơ mới lúc bấy giờ. Họ càng cao giọng đề cao cái Tôi cá

nhân thì hình nh họ càng bị đẩy xa nhân quần hơn. Thậm chí có ngời gần nh bị hất sang bên lề của cuộc sống”, “ấy là khi con ngời cảm thấy bất an, hoang mang và lo sợ. Con ngời nỗ lực và tìm kiếm và tạo lập các mối quan hệ mà quên đi rằng các mối quan hệ đó không giúp đợc nó thoát khỏi nỗi cô đơn thời gian” [10, 251].

Chính những điều chúng tôi lý giải ở trên tạo nên Cái Tôi cô độc trong Thơ mới, vì lẽ đó sau này nhiều nhà Thơ mới đã đi theo cách mạng để tìm lời giải đáp, giải thoát mình khỏi sự cô độc, qua đó chúng ta thấy rằng: Nỗi cô

đơn là yếu tố bất biến của chủ nghĩa lãng mạng. Các nhân vật nh:

ChildeHarold của By ron, Piter SChemill của Claclamisso. Hay tâm trạng quằn quại đau xót của các nhà Thơ mới là tấm bi kịch sản phẩm của niềm thất vọng trớc sự không ăn khớp giữa thực tại và ớc mơ. Các nhà Thơ mới sớm gặp những tâm hổn trí thức của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Pháp sự bất mãn với xã hội. Những đau buồn chán nản khi phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp bị đàn áp dữ dội, thực ra những con ngời này vốn có cảm tình với cách mạng, nhng một khi phong trào cách mạng bị khủng bố họ không đủ dũng khí đi theo cách mạng và đều thoát ly chính trị, rơi vào cô độc bế tắc trong Thơ mới Cái Tôi cô độc chạy suốt cả quá trình và ngày một dữ dội thêm.

Từ mở đầu là Thế Lữ đem đến cho Thơ mới hơng vị cô độc:

Tôi là ngời bộ hành phiêu lãng

Đờng trần gian xuôi ngợc để vui chơi

(Cây đàn muôn điệu)

Trớc hết, thơ Thế Lữ là Cái Tôi cô độc, lẻ loi của một “cái Tôi” không tìm thấy niềm giao cảm với đời:

Cảnh mênh mang riêng có bóng hình tôi

Đang thơ thẩn với nỗi lòng bát ngát Nh một kẻ bộ hành ngơ ngác

Lạc vào nơi đồng đất, hoang vu.

(Trớc cảnh cao rộng)

Cũng nh bao nhà thơ lãng mạn khác, Thế Lữ muốn chạy trốn cuộc đời

đang giành giật đua chen khi con ngời tiểu t sản vừa mới lớn lên, thoát khỏi bào thai xã hội phong kiến, con ngời cảm thấy đau xót buồn tủi vì tình yêu đời chân thực mà lại bị đời sống ruồng bỏ.

Xuân Diệu là ngời yêu cuộc sống thiết tha, sôi nổi say đắm trong tình yêu, vậy mà cũng có lúc tỏ ra buồn tủi và cô độc:

Tôi nh chiếc thuyền h không bến đỗ Tôi chỉ là một con chim không tổ Lòng cô đơn hơn một đứa mồ côi Nhặt nụ cời của thiên hạ, than ôi

Để tự nhủ: Ta đợc yêu đấy chứ (Dối trá)

Huy Cận cảm thấy mình cô độc quá, hiu quạnh quá đến nỗi ông phải thốt lên bằng lời:

Những cô độc đã thầm ghi trên trán Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh

(Trình bày)

Các nhà thơ: Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chơng và một số ngời trong nhóm (Xuân Thu nhã tập), thơ ca của họ đọc lên ta luôn thấy có phong vị của

sự cô độc quạnh hiu. Chế Lan Viên trốn vào cái cô đơn của cuộc đời bằng sự cô đơn muôn lần lạnh lẽo:

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những u phiền xen lẫn với buồn lo.

Vũ Hoàng Chơng thấy mình nh những đứa con “Lạc loài bị quê hơng ruồng bỏ”:

Lò chóng ta ®Çu thai nhÇm thÕ kû Một đôi ngời u uất nỗi chơ vơ

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ

(Phơng xa)

Đến Nguyễn Bính, nhà thơ của những thơng nhớ đồng quê, vậy mà lúc xa quê hơng cũng đã từng thốt lên:

Bây giời gặp nhau trong phút giây Nợ thế trả cha tròn một món Sòng đời thua biết trắng hai tay Quê nhà xa lắc xa lơ đó

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

(Bài hành phơng Nam)

Qua việc khảo sát ở trên, chúng ta nhận ra một điều rằng “Cái Tôi cô

độc” chạy suốt cả hành trình Thơ mới. Nh vậy, đi vào tìm hiểu chiều sâu cái Tôi trữ tình trong Thơ mới giúp chúng ta nhận ra ý thức cá nhân càng sâu sắc thì sự cô độc lạc loài càng lớn.

Tóm lại, Cái Tôi cô độc đã chi phối mạnh mẽ cảm hứng sáng tạo của các nhà Thơ mới, làm cho Thơ mới càng phong phú về bề rộng vừa có chất l- ợng về chiều sâu. Nó quan có mối quan hệ chặt chẽ với các cái Tôi khác.

Tuy nhiên, nó không bị hoà tan mà có những nét đặc thù riêng, những biểu hiện riêng.

2.2.1. Cái Tôi bị hắt ra ngoài rìa và các quan hệ xã hội

Nh đã trình bày ở các phần trên, Thơ mới là nơi để các nhà thơ thể hiện mình trên nhiều phơng diện của cuộc sống. Và thể hiện cái Tôi của chính mình. Chỉ có thời đại Thơ mới, thời đại của chữ “tôi” thì ý thức cá nhân mới có điều kiện để trỗi dậy mãnh liệt nh vậy. ý thức cá nhân khi đợc quyền bộc lộ thì lại bị chính xã hội ghẻ lạnh đã chối từ họ một cách không thơng tiếc và họ cảm thấy mình bị bỏ rơi và rơi vào trạng thái bơ vơ lạc lõng ngay chính giữa cuộc đời của chính mình. Thể hiện cái “tôi” là sở trờng của các nhà Thơ

mới, vậy mà khi họ bộc bạch ra thì chính cái “tôi” của các nhà Thơ mới bị gạt sang một bên, thậm chí bị hắt ra ngoài các quan hệ xã hội.

Ngợc dòng lịch sử tìm về với cái Tôi trong thơ văn trung đại, ta thấy cái Tôi trong thơ trung đại lại trái ngợc hoàn toàn với Thơ mới, đó là cái Tôi muốn cô độc, thích cô độc, ẩn mình vào thiên nhiên cây cỏ, không muốn giao lu với xã hội thực tại. Ta bắt gặp trong thơ trung đại những ẩn sỹ, những nhân vật trữ

tình tìm chốn vui với sông núi, với những cảnh đẹp của thiên nhiên, hay những thú vui cao nhã. Ngợc lại hoàn toàn với thơ trung đại, cái Tôi trong Thơ mới muốn tiếp xúc với xã hội muốn giao lu thể hiện mình mà không đợc xã hội chấp nhận, họ bị xem là con ghẻ của xã hội lúc bấy giờ và họ thấy mình là “kẻ sinh nhÇm thÕ kû”:

Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa, Bị quê hơng ruồng bỏ, giống nòi khinh

Để vô tận sá gì phơng hớng nữa

Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh

(Vũ Hoàng Chơng)

Từ trớc đến nay trong văn học ta bắt gặp cái Tôi buồn, không lối thoát thậm chí cô đơn giữa cộc đời thì rất nhiều, nhng có lẽ cái Tôi trong Thơ mới 1932 - 1945 là một cái Tôi “tội nghiệp” nhất nó không chỉ buồn, cô đơn bế tắc mà còn bị cắt đứt với cuộc sống hiện tại, không đợc công nhận mình trong cuộc sống mà bị hắt ra ngoài các mối quan hệ xã hội, đó không chỉ là buồn là cô độc nữa mà trở thành cái Tôi bi kịch không lối thoát của các nhà Thơ mới.

Vậy do đâu mà có hiện tợng nh vậy?

Đây là thời đại mà ý thức cá nhân trỗi dậy mãnh liệt, lúc này luồng gió văn hoá phơng Tây ảnh hởng rất sâu sắc đến mọi mặt của đời sống Việt Nam.

Tiếp thu văn hoá, lớp trí thức tiểu t sản muốn thể hiện mình, thể hiện cái “tôi”

phóng khoáng của mình bấy lâu nay bị gò bó, nhng ngợc lại bị xã hội phản

đối, thậm chí tẩy chay và họ cảm thấy mình bị hắt ra ngoài vòng quay của cuộc sống thực tại. Khởi đầu quá trình sáng tạo, tâm hồn của các nhà Thơ mới tỏ ra giàu chất lý tởng. Nhng khi cái Tôi cá nhân chạm đến hiện thực thì họ lại rơi vào trạng thái mơ mộng vì hiện thực đã chối bỏ họ một cách phũ phàng.

Nhng cũng phải công bằng mà nói rằng, các nhà Thơ mới thoát ly phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng do Đảng lãnh đạo, không một nhà Thơ mới nào lên tiếng ủng hộ giai cấp thông trị hoặc công nhận trật tự xã hội bấy giờ là tốt đẹp. Họ là kẻ đứng giữa ngã ba đờng, hết sức luẩn quẩn. Họ thấy cuộc đời chỉ toàn những cảnh tù hãm đau xót. Có lẽ đây là một sự khác nhau về màu sắc và mức độ giữa hai lối nhìn t sản và tiểu t sản.

Xuân Diệu thấy:

Đời cũng đìu hiu nh dặm khách.

Huy Cận cũng thấy cuộc đời tẻ nhạt, tù túng:

Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu Tới hay lui cũng chừng ấy mặt ngời.

Hồn thơ Huy Cận, tinh tế, luôn hớng tới vẻ đẹp trong cuộc đời và tạo vật vậy mà cũng có lúc nhà thơ cảm nhận đợc sự vô nghĩa, lẻ loi của mình giữa cuộc đời:

Hồn đơn chiếc nh đảo rời dặm biển

Suốt một đời nh núi đứng riêng tây.

Cảm nhận về sự vô nghĩa của mình giữa cuộc đời, các nhà Thơ mới ra sức tô đậm mô tả mình, nhng họ càng mô tả càng thấy mình không đợc chấp nhận ở xã hội này, họ vô cùng tủi thân và nhận mình là đứa con ghẻ của xã hội nên họ tìm lối thoát ly bằng nhiều con đờng nhng con đờng nào cũng là ngõ côt, tèi om.

Huy Cận đã có lúc buông xuôi hai tay trớc thợng đế:

Hỡi thợng đế: Tôi cúi đầu trả lại Linh hồn đà một kiếp đi hoang Sầu đã chín xin ngời thôi hãy hái Nhận tôi đi, dầu địa ngục thiên đàng.

Xuân Diệu thời kỳ cuối, cái Tôi bế tắc đòi thoát ly ra ngoài bản ngã, tự huỷ diệt để tan vào trăng sao vũ trụ:

Ta bá cổ những con rồng gió lợn

Không gian đâu thuyền ta vợt trùng dơng Lòng vỡ tung ta say khớt đau thơng Muốn đi nhanh cho xơng rờn tốc độ Cho văng xé tay chân cho rả riêng đầu cổ Mái chèo đập mau ta thoát ngoài ta.

(SÇu)

Xuân Diệu là ngời yêu cuộc sống, tình yêu và tuổi trẻ, nhng khi bị xã

hội chối bỏ ông một cách phũ phàng, Xuân Diệu đã rơi vào bi kịch bế tắc thùc sù:

Tôi là con nai bị chiều đánh lới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tôi

(Khi chiÒu gi¨ng líi) Và Xuân Diệu rất sợ cô đơn khi phải gặp cảnh nh vậy:

Em sợ lắm, giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt sơng da

(Lêi kü n÷)

Nh vậy, dọc theo hành trình Thơ mới, từ ngời mở đầu cho đến khi phong trào Thơ mới kết thúc, mức độ đậm hay nhạt có thể khác nhau, nhng cảm nhận về sự lạc lõng của cái Tôi bị hắt ra ngoài các quan hệ xã hội, bị cắt

đứt với cuộc đời hầu nh nhà thơ nào cũng vấp phải đó chính là sự đau đớn nhất, bi kịch nhất của các nhà Thơ mới với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ muốn

đợc thể hiện mình giữa cuộc đời mà không đợc thừa nhận. Chính hiện trạng đó

đã sinh ra những cảm hứng buồn tủi, làm cho Thơ mới tràn ngập một âm điệu bi ai.

2.2.2. Cái Tôi cô độc trớc vũ trụ

Cái buồn trong cuộc đời thực đã biến thành nnững dòng lệ văn chơng.

Nhng những ngời tiểu t sản trí thức thờng lấy cái Tôi nhỏ bé cô độc của mình

để ra đo với vũ trụ.

Sống ở cõi đời đầy chông gai phản trắc, ở cái xã hội đổi trắng thay đen, không tìm ợc sự giao hoà, không chỗ bấu víu vào chuộc sống, các nhà Thơ

mới đã thả hồn mình ra cùng vũ trụ, thiên nhiên. Những tởng đó là nơi hồn ng- ời sẽ bình an, nhng tội nghiệp thay, bốn bề lại vắng lặng, cô liêu, hồn ngời hồn ngời đã cô độc lại càng cô quạnh hơn. Cô độc trơ trọi giữa cuộc đời, cô độc ngay chính trong bản thân mình. Nhìn vào đâu cũng thấy cô đơn lẻ loi và cô

độc, vì thế thiên nhiên, cảnh vật cũng lẻ loi, cũng hiu hắt buồn. Trong ánh mắt của thi nhân, tất cả đều không có chỗ cho mình trú ẩn. Không gian ấy mở ra mênh mông đấy, nhng đó là không gian của một vũ trụ ngoài tầm với, nếu mình đặt chân vào trong đó, cũng chỉ lạc lõng bơ vơ.

Khi Thế Lữ đang trốn vào cô đơn vào trong cái đẹp, vào nghệ thuật, và khi Xuân Diệu nhận ra cuộc đời vốn đã “cay cực”, lại “đìu hiu”, cảm thấy cô

độc, lạc lõng ngay chính giữa cuộc đời, giữa đồng loại, thì Huy Cận đã vợt xa hơn giải thoát cô đơn bằng cách tìm đến với vũ trụ làm bầu bạn.

Nhung những cái cá nhân lãng mạn nhỏ nhoi ấy làm sao ôm nổi không gian vũ trụ ? Họ chỉ biét đứng ngoài chiêm nghiệm, tâm tình, để tìm sự th thái bình an cho tâm hồn cô độc. Nh chúng ta đã biết, trong văn học trung đại, mỗi khi các thi nhân đứng trớc vũ rụ bao la bát ngát, họ luôn tìm đợc cảm hứng sáng tạo nghệ thụât, ví dụ nh cảm giác khi đợc lên cao, thả hồn mình vào vũ trụ bao la, họ cảm thấy tâm hồn mình đợc siêu thoát, sảng khoái và những kiệt tác cũng ra đời trong những hoàn cảnh nh vậy. Nhng các nhà Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945 khi đứng trớc vũ trụ bao la họ cảm thấy cô độc vô cùng, cái cá nhân lãng mạn nhỏ nhoi ấy làm sao ôm nổi không gian vũ trụ. Họ chỉ biết

đứng ngoài chiêm nghiệm, tâm tình, để tìm sự th thái bình an cho tâm hồn cô

độc. Các nhà Thơ mới đều bế tắc giữa cuộc đời. Họ tìm đến với vũ trụ nhũng t- ởng sẻ đợc chia sẻ, an ủi hay trốn tránh đợc cuộc đời thì vũ trụ ấy chính là thê lơng, ảm đạm:

Không khí vờn xoay mộng rã tan Tởng nh tim đã cũ muôn vàn Thâu quá cái ngáp dài vô tận Hình ảnh lung linh vũ trụ tàn

(Giấc ngủ chiều)

Trôi dạt trên dòng sông thời gian ấy và lạc vào vũ trụ bí ẩn bao la lẻ loi, Huy Cận là nhà thơ có nỗi sầu vũ trụ, cô độc trớc vũ trụ rõ nhất trong Thơ mới.

Với Huy Cận trớc mắt chỉ còn là xứ cô đơn, một màu xám xịt của vũ trụ mông lung:

Tôi đâu biết thịt xơng là sông núi Chia biệt ra từng xứ cô đơn

(Trình bày)

Cái sầu, cái lẻ loi cô độc của vũ trụ trong Thơ mới cũng chính là linh hồn của thi nhân, cái sầu ấy là cái sầu mênh mông bát ngát không ngăn cản đ- ợc đến một cách bất ngờ và làm ngây ngất cả sông núi. Ai ngờ chính đây là là

Một phần của tài liệu Cái tôi cô độc trong thơ mới 1932 1945 (Trang 28 - 47)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(55 trang)
w