Đa dạng sinh học trong sinh thái học

Một phần của tài liệu Sách du lịch sinh thái - ecotourism (Trang 56 - 59)

Chương 5: SINH THÁI RỪNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC

5.2 Đa dạng sinh học trong sinh thái học

Do đối tượng nghiên cứu là sinh thái học phục vụ cho DLST nên những vấn đề chúng tôi đưa ra đây cũng không thoát khỏi phạm vi trên. Đa dạng sinh học là một trong những điều kiện cần cho phát triển DLST.

5.2.1 Đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học là một khái niệm nói lên sự đa dạng và phong phú về nguồn gen, loài sinh vật trong hệ sinh thái và trong tự nhiên. Trong một hệ sinh thái môi trường, số lượng các giống và các loài càng nhiều, tức là các hệ gen càng nhiều. Một hệ sinh thái nào đó dẫu số lượng cá thể rất đông nhưng nguồn gen ít thì đa dạng sinh học rất thấp. Ví dụ ở một vùng đất khô cằn, có hàng vạn hàng triệu con kiến, nhưng ít loại côn trùng, cây cỏ thì ta nói rằng đa dạng sinh học nghèo nàn. Ngược lại, một môi trường có đông cá thể sinh vật sống; nhiều động, thực vật và vi sinh vật khác nhau thì ta nói đa dạng sinh học rất phong phú. Vùng sinh thái cửa sông là một ví dụ (có thực vật trên cạn, dưới nước, nửa trên cạn, nửa dưới nước, thực vật chịu mặn, thực vật nước lợ, nước ngọt…). Động vật cũng vậy, tôm cá rất nhiều chủng loại, vi sinh vật cũng thế, ta có thể nói nơi đây đa dạng sinh học phong phú. Tuy nhiên, vùng đất đồi sỏi đá, bị laterit hóa, cây cối không mọc nổi thì sinh vật cũng trở nên hiếm hoi. Vậy đa dạng sinh học ở đây là rất nghèo nàn.

Ta cũng có thể hiểu đa dạng sinh học được biểu hiện qua sự phong phú về số lượng những nguồn sống trên hành tinh bao gồm toàn bộ cả cây và con, chúng đa dạng và thay đổi về muôn loài, cũng như sự phong phú về hệ sinh thái mà sinh vật sống trong đó.

Mục tiêu chung là chúng ta là phải bảo tồn tính đa dạng sinh học trên toàn cầu trong khuôn khổ của sự phát triển bền vững. Trong tương lai, những cây trồng, vật nuôi sẽ được lấy từ những loài hoang dại hiện có, mỗi loài này có đặc thù và

giá trị riêng tương ứng với những loài đã được thuần dưỡng.

Chúng có nguồn gen cần thiết cho phép phát triển thông qua phương pháp nhân tạo, những giống mới có kiểu hình đặc biệt, và có khả năng thích nghi, kháng bệnh trước những thay đổi của môi trường.

DLST là một trong những công cụ đắc lực nhằm bảo vệ các nguồn gen quý hiếm này.

Hiện nay, có nhiều loài hoang dại được thuần dưỡng dùng vào mục đích lương thực, dược liệu, gỗ, sợi, nhiên liệu và có nhiều tính năng sử dụng khác đáp ứng cho nhiều nhu cầu khác nhau. Tuy nhiên, việc gia tăng sản xuất và khai thác các dạng tài nguyên đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến tình trạng đa dạng sinh học. Cần phải có biện pháp bảo vệ, trong đó “kế hoạch hành động về đa dạng sinh học” của Việt Nam là một điển hình về chiến lược quốc gia để tìm lời giải chung cho những thách thức đang đặt ra trước mắt.

Sinh vật phân bố rộng khắp trên toàn thế giới; phân bố thưa thớt ở hai cực và có khuynh hướng tăng lên khi càng gần về phía xích đạo. Số lượng của chúng đạt điểm đỉnh ở vùng nhiệt đới, ở biển và ở các bãi ngầm san hô trong các vùng biển nhiệt đới này. Mỗi thành viên của mỗi loài sinh vật là một cá thể và mỗi cá thể này đều có khả năng thực hiện chức năng sinh lí cơ bản của mình. Sự tiến hóa của sinh vật là một trong những biểu hiện về sự thích nghi của sinh vật đó với môi trường sống. Những sinh vật phát triển trong những điều kiện môi trường khác nhau và cần thiết phải thích nghi để đáp ứng với sự thay đổi của môi trường (đặc biệt là sự thay đổi về nhiệt độ). Vì vậy, trải qua hàng triệu

năm, một số loài đã bị biến mất, chỉ còn một số loài sinh sôi nảy nở. Chính sự điều chỉnh để thích nghi này đã tạo ra sự đột biến; ví dụ: như một số biến đổi trong cấu trúc gen di truyeàn cuûa chuùng.

Từ thời sơ khai cùng với sự phát triển của nhân loại, tổ tiên của chúng ta đã nhận thấy được giá trị của từng loài và sự phong phú của nó, đồng thời cũng cảm nhận được sự gia tăng dân số nên đã nhân giống rất nhiều loài. Chính điều này đã làm gia tăng khả năng tồn tại và phạm vi phân bố của sinh vật. Nó không những tăng sự đa dạng giữa các sinh vật với nhau mà tự trong bản thân các sinh vật cũng đã phong phú hơn. Nói cách khác, con người đã làm thay đổi một cách có cân nhắc các gen để bổ khuyết cho các thực vật và động vật mà họ thấy hữu ích. Đây là một trong những căn nguyên để thúc đẩy sự đa dạng sinh học.

5.2.2 Vai trò của sinh vật đối với sự sống trên trái đất

Sự mất đi tính đa dạng sinh học là một vấn đề thuộc khoa học đạo đức, thẩm mỹ, chính trị và kinh tế. Nó ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến tương lai của nhân loại. Thực vật và động vật là nền tảng không thể thiếu cho các loại dược phẩm, các chủng nông sản thực phẩm và các sản phẩm công nghiệp.

Khi các quần thể sinh vật bị biến mất, con người sẽ chịu một mối đe dọa khác, đó là sự suy yếu khả năng tiến hóa và thích nghi với một thế giới đang biến động. Khi sự tổn thất loài lên cao nhất (áp lực trên trái đất lớn nhất) thì khả năng thích nghi của các quần thể cũng biến mất. Đồng thời các hệ

111 112 sinh thái sẽ mất đi nhiều chức năng hỗ trợ cuộc sống của con

người.

Nói đến vai trò của sinh vật đối với sự sống trên trái đất thì không thể không nói đến vai trò của rừng. Đối với môi trường đất, thực vật của rừng (xác, bã thực vật chết) là nguồn cung cấp chất mùn làm tăng lượng hữu cơ cho đất, giúp cho đất có độ phì nhiêu, màu mỡ cao. Các loài động vật sống trong đất đào lỗ hang và lấy xác bã cây mục làm thức ăn để rồi bài tiết ra chất thải chứa nhiều hữu cơ, đặc biệt là canxi.

Ngoài ra, rừng còn có tác dụng chống xói mòn đất. Thực tế cho thấy ở một số nơi do khai thác rừng bừa bãi đã làm cho đất bị xói mòn trơ sỏi đá, mất tính năng sản xuất.

Đối với môi trường nước, rừng đầu nguồn có vai trò rất lớn, nó hạn chế tốc độ của nước do những trận mưa lớn gây ra, làm giảm nguy cơ lũ lụt ở vùng hạ lưu. Mặt khác, do có sự cản trở của cây cối trong rừng mà nước mưa có thời gian ngấm sâu xuống đất, là một nguồn cấp quí giá cho nước ngầm. Rừng còn có tác dụng lớn trong việc điều hòa lượng nước bốc hơi.

Đối với môi trường không khí, do sự quang hợp của cây xanh, rừng cung cấp một lượng oxy lớn cho nhu cầu hô hấp của con người, loại bớt khí cacbonic ra khỏi bầu khí quyển, làm cho môi trường trong sạch hơn, điều hòa khí hậu. Vì thế, có thể nói rừng là “lá phổi xanh” của hành tinh chúng ta.

Tóm lại, rừng và đa dạng sinh học là yếu tố rất cần để phát triển loại hình du lich sinh thái. Vì vậy, bảo tồn tài

nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học sẽ giúp cho hoạt động của DLST có điều kiện để tồn tại và phát triển.

Chửụng V

1. Hệ sinh thái rừng là gì?

2. Hãy nêu một số nét về diễn biến của hệ sinh thái rừng gắn với lịch sử phát triển của loài người?

3. Điều kiện hình thành và phát triển rừng?

4. Sự phân bố của tài nguyên rừng trên Thế giới qua các thời kỳ? Nguyên nhân?

5. Sự phân bố của tài nguyên rừng ở Việt Nam qua các thời kỳ phát triển? Nguyên nhân?

6. Mối quan hệ giữa môi trường sinh thái và rừng ở nước ta?

7. Nêu những hiểu biết của anh (chị) về rừng? Vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân?

8. Nạn phá rừng có thể gây ra những hiểm họa gì cho môi trường? Ví dụ cụ thể ở Việt Nam?

9. Đa dạng sinh học là gì? Công cụ được xem là đắc lực nhằm bảo vệ các nguồn gen quý hiếm?

10.Nêu và phân tích vai trò của sinh vật đối với sự sống trên trái đất?

Một phần của tài liệu Sách du lịch sinh thái - ecotourism (Trang 56 - 59)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(274 trang)