Chương 9: QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ DU LỊCH
9.5 Các nguyên tắc của quy hoạch và thiết kế
DLST
Là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù làm đối tượng để phục vụ cho du khách yêu thiên nhiên, thưởng ngoạn cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái;
nó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với bảo vệ môi trường tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững, DLST thường lấy các khu BTTN, rừng phòng hộ môi trường làm địa điểm để phát triển du lịch. Vì vậy, DLST phải có trách nhiệm với các khu bảo tồn, nơi có những sinh vật quý hiếm và đồng thời phải cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương. DLST cũng tạo điều kiện để thỏa mãn cho sự khao khát và hòa nhập vào thiên nhiên, trở về với cội nguồn, khai thác các lợi thế du lịch, tôn tạo các giá trị tài nguyên sinh vật, cảnh quan, đồng thời ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên hệ sinh thái môi trường, nâng cao tính thẩm mỹ, sinh thái cho các khu BTTN.
Vì vậy, khi quy hoạch hay thiết kế khu DLST hay muốn phát triển DLST cần phải nắm vững bốn nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất, yếu tố sinh thái môi trường đặc thuứ: khu DLST phải thật sự đại diện cho một loại hỡnh sinh thái nhất định, có đủ sức hấp dẫn khách DLST. Ví dụ:
rừng ngập mặn Cần Giờ là điển hình cho khu rừng ngập mặn thứ sinh ven biển phía Nam của Việt Nam. Mặt khác, các nhà quy hoạch cũng cần xem xét khả năng tự làm sạch (self- purification) của hệ sinh thái ở đó như thế nào? Khả năng gánh chịu tải lượng ô nhiễm là bao nhiêu? Trong thời gian là
bao lâu? Một số thành phần chủ yếu của môi trường có thể chịu sức ép của du khách đến đâu? Ví dụ ở đảo khỉ Cần Giờ, khỉ, trăn, cá sấu… ở đó có thể chịu được bao nhiêu du khách vừa đến xem, vừa chọc phá. Giới hạn chịu đựng của cây rừng, nước, đất khi số lượng du khách gia tăng sẽ gây ô nhiễm, hư hại đến đâu cũng cần được tính toán kỹ lưỡng trong nghiên cứu quy hoạch DLST. Khi khu bảo tồn phải “cõng” lên lưng nó một nhiệm vụ nữa là phục vụ cho du lịch thì có nghĩa là phải gia tăng hệ thống giao thông, nhà nghỉ, nhà ăn, nhà vệ sinh, khu vui chơi, khu nghỉ ngơi… Vậy thì cần phải đánh giá tác động lên hệ sinh thái môi trường một cách nghiêm túc, chứ nhất thiết không thể qua loa như các loại hình du lịch khác. Một ví dụ nữa là: ở rừng ngập mặn Cần Giờ có nên làm thêm đường bộ nữa hay không? Vì chúng ta biết, đối với các khu bảo tồn thêm một quãng đường đi là rút ngắn 5 lần quãng đường sinh tồn của nó. Mặt khác, hệ sinh thái rừng ngập mặn có tính chất đặc thù là rất nhạy cảm với mỗi một sự thay đổi nhỏ của môi trường bên ngoài tác động vào. Ví dụ: nó có yêu cầu nghiêm ngặt về chế độ triều ra vào trao đổi nước thường xuyên để cung cấp cho nhu cầu trao đổi khí, độ mặn không cao quá 300/00 nhưng không thấp quá 100/00. Vì vậy, khi lên liếp trồng cây, làm nhà, làm đường… cần phải hết sức lưu ý, nếu không thì cây rừng sẽ giảm sức sống, thậm chí sẽ chết. Cây chết thì mất nguồn cung cấp thức ăn cho thực vật phù du, khiến nó cũng chết theo và rồi khiến động vật phù du và sau đó là tôm cá cũng chết theo. Hệ sinh thái rừng ngập mặn lúc ấy sẽ bị tiêu hủy hoàn toàn. Nếu như ở các khu du lịch khác thì việc làm đường, lên liếp, đắp đập không mấy phải cân nhắc, thì ở đây điều đó là bức bách
nhất. Bởi vì, đây là vùng đất phèn tiềm tàng (không độc), nếu đào xới lộ ra không khí lớp đất sinh phèn (pyrite) thì nó sẽ bị oxy hóa, cho ra phèn hoạt tính, rất độc cho sinh thái môi trường và con người. Quản trị hay hướng dẫn DLST nhất là sinh thái rừng ngập mặn đòi hỏi phải nắm thật chắc về chuyên môn “Sinh thái học phục vụ du lịch” (gọi tắt là “Sinh thái du lịch”). Cần nắm vững về từng “thành phần môi trường” và “môi trường thành phần” nước lợ – đất bùn mặn trên nền phèn tiềm tàng – cây non của hội đoàn rừng ngập mặn ở đây liên quan hết sức chặt chẽ với nhau. Cũng là rừng ngập mặn nhưng rừng ngập mặn ở Cần Giờ khác hẳn với rừng ngập mặn ở Cà Mau, Bạc Liêu, càng khác xa với rừng ngập mặn ở Quảng Ninh, Hải Phòng. Cũng cần xác định những nội dung đại diện nhất cho rừng ngập mặn Cần Giờ như “dây chuyền thực phẩm”, “dòng năng lượng”, “diễn thế sinh thái” ra sao? hiện trạng đang ở giai đoạn nào?, “cân bằng sinh thái” đã ổn định chưa?... để từ đó mới có những biện pháp quản trị thích hợp.
Nguyên tắc thứ hai, yếu tố thẩm mỹ sinh thái: Những câu hỏi về thẩm mỹ trong DLST cần phải được nêu ra và giải quyết trọn vẹn trước khi quy hoạch và triển khai hành động.
Ví như, làm đường ghép bằng thân cây chà là trên các cây ngập mặn là nên, nhưng cấu trúc như thế nào để vừa bảo đảm mỹ quan vừa không để khách phá cây, chọc thú và xả rác (lon đồ hộp, bao nilong…) ngỗn ngang trên cả cánh rừng.
Cần có dự tính và khống chế lượng rác hữu cơ ngoại lai do du khách và người phục vụ thải ra. Bởi vì ở môi trường nước mặn, tàn tích hữu cơ rừng ngập mặn rất dễ bị phân huỷ để
đưa chúng vào chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái. Nhưng những dạng hữu cơ lạ khác, không có hệ vi sinh vật thích hợp, sẽ cần thời gian khá dài mới phân huỷ hoàn toàn nên dễ gây nên mùi hôi và nhất là làm mất vẽ mỹ quan cho hệ sinh thái.
Ví dụ có một dự án làm hồ trữ nước ngọt cho khu dân cư và phục vụ cho các hoạt động du lịch. Đó là một ý tưởng rất hay, vừa mang tính thẩm mỹ sinh thái: tạo một cảnh quan sinh thái độc đáo, vừa mang tính kinh tế xã hội: cung cấp nước ngọt sinh hoạt cho vùng thiếu nước ngọt trầm trọng này. Tuy nhiên, cần cân nhắc kỹ hơn về cái được và cái mất (lợi ích và chi phí). Ta biết rằng, cây rừng ngập mặn chỉ thích nghi trong điều kiện ngập mặn và thời gian ngập theo chế độ thủy triều. Nếu thay đổi chế độ ngập khô xen kẽ của nó bằng cách chỉ ngập nước ngọt dưới 10% lâu dài, ngay cả khi không cho ngập mà chỉ giữ nước ngọt trong đoạn sông rạch thì một diện tích rộng lớn trong phạm vi ảnh hưởng của hồ nước ngọt, cây cối sẽ sinh trưởng kém, cảnh quan sẽ xơ xác, nằm ngoài sự mong đợi của chúng ta.
Mặt khác, cũng nên phân loại du khách: nghiên cứu, thưởng ngoạn hay vui chơi, thậm chí kể cả xác định lượng khách tối đa cho mỗi lần tham quan để không gây xáo trộn mỹ quan sinh thái, số người quá đông sẽ làm giảm sự hứng thú nghiên cứu, thưởng thức, tĩnh mịch hơi thở, tính thiên nhiên, lời tâm tình của núi rừng, nhất là rừng ngập mặn vốn rất mẫn cảm và dễ bị tổn thương.
DLST xét về bản chất là làm tăng hứng thuù và sự mong đợi. Nếu thẩm mỹ sinh thái bị phá hoại thì du khách sẽ dễ
203 204 chán, dễ bỏ đi. Nhưng muốn tăng hấp dẫn thì phương pháp
cổ điển nhất là làm phong phú hơn các loại hình du lịch; điều này lại dễ dẫn đến sự xâm hại đến mỹ quan sinh thái. Vậy thì đòi hỏi các nhà tổ chức phải cân nhắc thật kỹ các yếu tố này.
Nguyên tắc thứ ba, yếu tố kinh tế: khác với các loại hình hoạt động khác, việc xác định lợi ích từ du lịch chỉ dựa vào đơn thuần tổng thu nhập giờ đây không còn phù hợp nữa.
Phát triển DLST ở các khu bảo tồn nói chung ở các khu DLST nói riêng phải chịu nguyên tắc chi trả phí tài nguyên và phí sinh thái. Ví dụ, nếu chặt một cây thì phải trả phí giá trị tài nguyên của cây đó, cùng với phí làm cảnh quan môi trường ở đó xuống cấp. Mặt khác, DLST cũng nhằm mục đích nâng cao đời sống kinh tế của cư dân bản địa. Cũng cần tính đến việc huấn luyện dân địa phương biết chuyên môn về sinh thái du lịch, tạo công ăn việc làm cho họ. Xác định thế mạnh kinh tế của một địa bàn là DLST nhưng đây mới chỉ là tiềm năng. Muốn biến thành hiện thực nhất thiết phải nghiên cứu kyõ hôn.
Nguyên tắc thứ tư, yếu tố xã hội: khi biến khu bảo tồn thành “khu bảo tồn DLST” không quên mang theo một chức năng văn hóa xã hội. Điều có thể xảy ra là dễ có sự bất hoà giữa cư dân địa phương, truyền thống văn hóa, tập tục sinh hoạt của cư dân địa phương bị du khách, nhất là du khách chưa có ý thức cao làm xáo trộn, tổn hại. Phải gắn những hoạt động của du lịch với việc nâng cao nhận thức xã hội cho các cư dân địa phương.
Vì vậy, theo chúng tôi cần khai thác các nguyên tắc trên theo cơ cấu DLST, lấy ví dụ cho rừng ngập mặn như sau:
- Tăng cường nỗ lực bảo vệ lợi ích của DLST ở khu rừng ngập mặn đó bằng cách mời đại diện địa phương tham gia vào các dự án bảo tồn khu vực.
- Tôn trọng nền văn hóa bản địa.
- Sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên rừng ngập mặn (đất mặn - đất phèn tiềm tàng, tài nguyên nước lợ - nước triều, tài nguyên năng lượng mặt trời, gió, sóng, tài nguyên đa dạng sinh học của từng hội đoàn thực vật, động vật…) một cách bền vững và có hiệu quả.
- Hạn chế tối đa những tác động môi trường do rác và các chất thải gây nên làm mất vẻ thẩm mỹ của khu rừng ngập mặn và gây ô nhiễm môi trường tại những nơi khai thác DLST.
- Tận dụng các hình thức tiếp thị, kích thích nhu cầu của du khách tìm về khu rừng ngập mặn đó.
- Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên DLST để có thể hiểu biết sâu sắc về văn hóa, lịch sử và các vấn đề về kinh tế - xã hội tại địa phương, nhất là kiến thức về sinh thái rừng ngập mặn.
- Tránh buôn bán những loại động vật trong khu rừng ngập mặn đang dễ bị tổn thương hoặc đang có nguy cơ bị đe dọa. Tăng cường số lượng động vật rừng ngập mặn bằng cách thả vào đó những động vật đặc trưng, có thể kiểm soát.
- Tìm hiểu những nội quy và cách thức bảo vệ cho một khu rừng ngập mặn điển hình.
- Quy hoạch hệ thống giao thông, tránh tạo ra quá nhiều đường sá không cần thiết, tránh gây ra những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động giao thông đưa lại.
- Tạo khoảng cách an toàn đối với các loại động vật trong khu vực.
Ngày nay, DLST đang dấy lên trong giới lữ hành một cao trào. Từ những cơ sở ban đầu, những thành quả từ DLST nhất là những nghiên cứu quý giá của các tổ chức du lịch, việc triển khai DLST trên quy mô rộng đã có những thuận lợi nhất định. Tuy nhiên, để DLST phát triển đúng hướng thì cần thiết phải quan tâm nhiều hơn về mặt sinh thái. Về mặt học thuật, phát triển DLST cũng là một trong những nội dung cơ bản của sinh thái môi trường học.
9.6 QUY HOẠCH VÀ XÂY DỰNG KHU DLST CẦN GIỜ NHẰM ĐÁP ỨNG SỰ PHÁT TRIỂN DLST BỀN VỮNG
• Quy họach các phân khu chức năng
10.6.1 Bố trí cơ cấu đất đai
- Căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng.
- Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội.
- Mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng phát triển lâm viên:
Bố trí diện tích đất đai như sau:
+ Tổng diện tích tự nhiên 2.215,42 ha, trong đó:
Rừng tự nhiên 378,19ha 17.1 % Rừng trồng 1.146,71ha 51.8 %
Đất khác 690,52ha 31.1%
+ Tổng trữ lượng rừng: 104,947 m3 9.6.2 Quy hoạch các phân khu chức năng Căn cứ để quy hoạch các phân khu chức năng:
- Mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng Lâm Viên.
- Chức năng của rừng.
- Các kiểu thảm thực vật và động vật đặc trưng của vuứng.
Các khu chức năng được phân chia như sau:
1. Khu bảo tồn tài nguyên động vật: 971,16 ha 43,8%
2. Khu công viên và di tích lịch sử: 110,8 ha 5,0 % 2.1 ẹieồm phuùc cheỏ di tớch lũch sử:ỷ 5,00 ha
2.2 Nhà truyền thống: 4,38 ha 2.3 Điểm vui chơi giải trí: 43 ha
2.4 Rừng phục vụ tham quan và giáo dục sinh thái:
97,12 ha 3. Khu thực nghiệm và nghiên cứu
khoa học:
699,72 ha 31,6%
3.1 Phân khu thực nghiệm và nghiên cứu khoa học I:
445,65 ha
207 208 3.2 Phân khu thực nghiệm và
nghiên cứu khoa học II:
254,07 ha 4. Phân khu hành chính và công
viên sinh thái nhân văn ACTMANG
63,12 ha 2,9 % 4.1 Phân khu hành chính
2,79 ha 4.2 Phân khu công viên sinh thái
nhaân vaên ACTMANG
60,33 ha 5. Đất khác (bãi bồi, kinh rạch)
370,62 ha 16,7 % 9.6.3 Khu bảo tồn tài nguyên động thực vật
Vò trí:
- Trải dài từ khoảng 3 đến khoảng 9 - Toồng dieọn tớch 971,16 ha
Đặc điểm khu bảo tồn:
- Điều kiện đất và ngập triều rất thích hợp cho sự phát triển của rừng ngập mặn.
- Có tương đối đầy đủ các sinh vật cảnh và thực vật đặc trưng của rừng ngập mặn.
- Vùng phân bố của động vật hoang dã, đặc biệt là vùng phân bố của khỉ đuôi dài và heo rừng
Chức năng:
- Là cơ quan chủ quản thay mặt uỷ ban nhân dân huyện và thành phố quản lí tài nguyên đất và tài nguyên động thực vật trong toàn bộ lâm viên.
- Xây dựng các chương trình hoạt động và thực hiện chúng để đạt mục tiêu khu bảo tồn.
Nhieọm vuù:
- Quản lí toàn bộ tài nguyên động thực vật hiện có.
- Tổ chức các chương trình tham quan, du lịch sinh thái, giáo dục sinh thái và nghiên cứu khoa học.
- Khu bảo tồn tài nguyên động thực vật được xây dựng để phát triển nguồn tài nguyên động thực vật.
9.6.4 Khu công viên và di tích lịch sử Vò trí:
- Trung tâm Lâm Viên Cần Giờ.
- Thuộc khoảng 6.
- Toồng dieọn tớch 110,8 ha - Tổng trữ lượng 7.214 m3 Các đặc điểm:
- Đất mặn phèn tiềm tàng, có tầng sinh phèn sâu, ngập mặn thường xuyên và bãi bồi cát ngập triều.
- Mặc dù đây là rừng trồng, những điều kiện tự nhiên và lập địa ở đây đã hình thành một chuỗi diễn thế rừng tự nhiên từ ngoài sông vào sâu trong nội địa theo trình tự nối tiếp như quần xã mấm trắng, mấm trắng + mấm đen, mấm đen + đước và đước thuần loại.
- Một diện tích nhỏ đất mặn phèn tiềm tàng, có tầng sinh phèn sâu, ngập nước theo con nước. Các quần xã thực vật như chà là, dà có khuynh hướng chiếm ưu thế.
- Sự phục hồi của hệ sinh thái tại đây đã và đang làm cho động vật xuất hiện ngày càng đông như: khỉ đuôi dài, heo rừng, các loại cò, cu đất… và đây cũng là vùng mở rộng phân bố của động vật hoang dại.
• Quy hoạch các điểm giải trí và tham quan du lòch
Bước đầu xây dựng các điểm phục chế tham quan du lịch, vui chơi giải trí và học tập.
- Điểm phục chế di tích lịch sử 5,00 ha - Tượng đài và nhà truyền thống 4,38 ha - Rừng phục vụ tham quan và giáo dục sinh thái
97,12 ha
- Điểm vui chơi giải trí 4,30 ha
Điểm phục chế di tích lịch sử - Dieọn tớch 5,00 ha.
- Một phần của lô b khoảng 6, tiếp giáp với rạch Khe Đôi Lớn.
- Xây dựng khoảng 0.1 ha, một căn cứ cách mạng, trong đó thể hiện cách sinh hoạt, phòng thủ chiến đấu của đoàn 10 rừng Sác trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ở rừng Sác Cần Giơ
Tượng đài và nhà truyền thống
- Diện tích tượng đài và nhà truyền thống: 4.38 ha
- Một phần của lô h khoảng 6
- Xây dựng tượng đài ca ngợi chiến công của nhân dân và đoàn 10 rừng sác, lưu lại những di vật và hình ảnh nhân dân và đoàn 10 rừng Sác trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ở rừng Sác Cần Giờ.
Điểm vui chơi giải trí
- Dieọn tớch: 4,30 ha
- Một phần của lô f
- Toạ lạc trên đất mặn phèn tiềm tàng.
- Thực vật chủ yếu là rừng mấm và một phần rừng ngập mặn. Đặc biệt nó nằm giữa đường đất đỏ và rạch Dinh.
- Điểm này nhằm mục đích phục vụ cho vui chơi giải trí bằng cách:
+ Tạo phong cảnh hoa kiểng, cá cảnh trong rừng ngập mặn.
+ Chòi quan sát để nhìn toàn khu vực.
+ Xây dựng nhà sàn, khu câu cá và bơi thuyền.
211 212 + Ngoài ra kết hợp với các điểm chăm sóc khỉ góp
phần phục vụ khách tham quan.
Rừng phục vụ cho du lịch và giáo dục sinh thái Vị trí và đặc điểm:
- Dieọn tớch: 97.12 ha
- Thuộc các lô b, c, d một phần của lô e và g của khoảng 6.
- Toàn bộ tọa lạc trên đất mặn phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn sâu, ngập nước thường xuyên. Do vậy, rất thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển rừng ngập mặn. Chính vì thế đã hình thành chuổi diễn thế từ bãi bồi vào trong đất liền theo trình tự các quần xã như sau:
Mấm trắng + mấm trắng + mấm đen + mấm đen và đước + đước thuần loại. Bên cạnh đó, là sự ưu thế của mấm đen dọc theo các con lạch và rạch.
- Điểm tham quan du lịch sinh thái và giáo dục sinh thái rừng ngập mặn.
Chức năng:
- Tổ chức các hoạt động tham quan du lịch sinh thái và giáo dục sinh thái.
- Tham quan rừng và các quần xã rừng ngập mặn trong khu rừng phục vụ tham quan.
- Xem thực vật trong vườn sưu tập thực vật rừng ngập mặn, đời sống bán hoang dã của động vật sống trên cạn trong vườn động vật.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống đấu tranh chống giặc của nhân dân thông qua:
+ Tham quan nhà truyền thống, điểm phục chế di tích lịch sử.
+ Tổ chức các hoạt động, sinh hoạt vui chơi giải trí để
phục hồi sức khỏe.
Biện pháp quản lí:
- Cải tạo cảnh quan tự nhiên cho phù hợp với yêu cầu tham quan du lịch nhưng không làm thay đổi lớn các đặc điểm cơ bản của từng khu vực.
- Không được chặt phá trái phép và săn bắt động vật rừng.
- Xây dựng hệ thống đường giao thông thủy bộ phục vụ
cho tham quan và tuần tra bảo vệ.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng, khu cắm trại để ở lại qua ủeõm.
9.6.5 Khu thực nghiệm và nghiên cứu khoa học Vị trí và diện tích:
- Chạy dọc theo đường Nhà Bè - Cần Giờ.
- Thuộc khoảng 1, 2, một phần của khoảng 3, 4, 5, 6.
- Toồng dieọn tớch: 699,72 ha
- Trữ lượng: 25.611m3
Các đặc điểm: