Khách là sự phân thân của tác giả.
- Khách xuất hiện với tư cách của con người có tâm hồn phóng khoáng:“Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết” Miêu tả liệt kê
- Là người thích đi du ngoạn nhiều nơi: “Học Tử Trường chừ thú tiêu dao”
- Là người có hoài bão lớn lao “Cái tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết” Ước lệ, không gian rộng lớn
- Khách luôn tìm hiểu và hoài niệm về quá khứ của dân tộc: “ thương nỗi anh hùng đâu vắng tá, tiếc thay dấu vết luống còn lưu” Sử dụng điển tích để thấy một tâm hồn hoài cổ.
- Loại địa danh thứ nhất lấy trong điển cố Trung Quốc (Loại địa danh tác giả đi qua chủ yếu là sách vở, bằng trí tưởng tượng: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương, chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”
- Những hình ảnh không gian rộng lớn: biển lớn (lướt bể chơi trăng) , sông hồ (Cửu giang, ngũ hồ),
Những vùng đất nổi tiếng Tam Ngô, Bách Việt…Vân Mộng) đã thể hiện tráng chí bốn phương của khách.
- Loại địa danh thứ hai là những địa danh của đất Việt, với những không gian cụ thể: cửa Đại Than, bến Đông triều…sông Bạch Đằng. Đây là những hình ảnh thực, có tính chất đương đại, đang hiện ra trước mắt tác giả. Chính vì vậy, cảnh vật thiên nhiên là cảnh thực, cụ thể, thật hùng vĩ, hoành tráng (Bát ngát sóng kình muôn dặm, thướt tha đuôi trĩ một màu) Song cũng thật ảm đạm, hiu hắt (Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu, sông chìm giáo gẫy, gò đầy sương khô).
- Biện pháp NT được sử dụng trong đoạn 1?
- Tác dụng?
Trước cảnh tượng đó, với tâm hồn phong phú, nhạy cảm, tác giả vừa vui, tự hào, vừa buồn, nuối tiếc. Vui trước sông nước bao la, hùng vĩ thơ mộng (Nước trời một sắc , phong cảnh ba thu) tự hào trước dòng sông từng ghi bao chiến công. Đau buồn, nuối tiếc vì chiến trường xưa một thời oanh liệt nay trơ trọi, hoang vắng, thời gian đang bao mờ dấu
+ Ước lệ, không gian rộng lớn + Đối lập thời gian
+ Miêu tả liệt kê
+ Sử dụng điển tích để thấy một tâm hồn hoài cổ Tất cả các biện pháp tu từ: được sử dụng để làm nổi bật hình ảnh nhân vật khách mạnh mẽ có hồn thơ trác việt, nặng nỗi niềm u hoài trước phong cảnh thiên nhiên của đất nước.
:
+ HS đọc từ “Bên sông các bô lão….ca ngợi”.
+ Nhân vật bô lão là những người như thế nào?
- Lời kể của các bô lão như thế nào? Họ kể chuyện gì?
- Lời kể theo trình tự diễn biến tình hình:
+ Ngay từ đầu, hai bên đã tập trung binh lực hùng hậu cho một trận đánh quyết định.
+ Tiếp đến trận đánh diễn ra gay go quyết liệt “được thua chửa phân”,
“bắc nam chống đối”. Đó là cuộc đối đầu không chỉ về lực lượng mà còn là đối đầu về ý chí: Ta với lòng yêu nước, với sức mạnh chính nghĩa; địch
“thế cường” với bao mưu ma chước quỉ.
+ Chính vì vậy mà trận chiến diễn ra rất ác liệt: “Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ - Bầu trời chừ sắp đổi”.
=> Những hình ảnh kì vĩ, mang tầm vóc của đất trời, những hình tượng
2. Hình tượng các bô lão
- Nhân vật các bô lão có thể là thật (Những người dân ven sông), cũng có thể là nhân vật hư cấu, là tâm tư tình cảm của chính tác giả hiện thành nhân vật trữ tình.
- Các bô lão đến với khách bằng thái độ nhiệt tình, hiếu khách, tơn kinh khách. “ Có kẻ gậy lê…thưa rằng”
- Là hình ảnh tập thể có sự hô ứng nhằm kể cho khách nghe chiến trân Bạch Đằng. Sau một câu hồi tưởng về trận “Ngô chúa phá Hoàng Thao”, các bô lão kể với khách về chiến tích “Trùng Hưng bắt Ô Mã”.
+ Tập trung binh lực hùng hậu cho một trận đánh quyết định
+ Cuộc đối đầu không chỉ về lực lượng mà còn là đối đầu về ý chí
+ Trận chiến diễn ra rất ác liệt: “Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ - Bầu trời chừ sắp đổi”.
141
đặt trong thế đối lập: Nhật nguyệt / mờ, trời đất / đổi, báo hiệu một cuộc thủy chiến kinh thiên động địa.
+ Cuối cùng người chính nghĩa chiến thắng, kẻ “hung đồ hết lối”, chuốc mối nhục muôn đời:
“Đến nay nước sông tuy chảy hoài, Mà nhục quân thù khôn rửa nổi!”.
Thái độ , giọng điệu của các bô lão khi keồ chuyeọn?
Những câu dài, dõng dạc gợi không khí trang nghiêm : “Đây chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị Thánh bắt Ô Mã – Cũng là bãi đất xưa thuở Ngô chúa phá Hoàng Thao”. Những câu ngắn gọn, sắc bén dựng lên khung cảnh chiến trận căng thẳng, gấp gáp:
“Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới – hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói”.
Nhận xét câu văn trong bài phú.
Các bô lão suy ngẫm gì?
Trương Hán Siêu đã gợi lại hình ảnh của Trần Hưng Đạo với câu nói lưu cùng sử sách.(Sử chép ngày 14 tháng 11 năm Đinh Hợi – 1287 có người về tâu việc quân Nguyên đã tràn vào cửa ải sông Hồng ở mạn Phú Lương, Trần Nhân Tông lo lắng hỏi Trần Hưng Đạo: “Giặc đến thì làm thế nào?” Hưng Đạo ung dung trả lời:
“Năm nay, giặc đến dễ đánh”.=> Câu nói của Hưng Đạo là câu nói của người nắm được thời thế, binh pháp, thấy vai trò quyết định của con người.
“Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.Bài phú cũng nói đến nhân tố thiên thời ( trời cũng chiều người), địa lợi (đất hiểm), nhân hòa ( nhân tài).
Tuy nhiên, thắng giặc không cốt ở đất hiểm mà chủ yếu là đức lớn, là sức mạnh của con người.
+ Các bô lão khẳng định điều gì?
+ Các bô lão kết luận điều gì?
+ Cuối cùng người chính nghĩa chiến thắng, kẻ “hung đồ hết lối”, chuốc mối nhục muôn đời:
=> Thái độ , giọng điệu của các bô lão đầy nhiệt huyết, tự hào, là cảm hứng của người trong cuộc.
+ Lời kể cô đọng, hàm xúc, khái quát nhưng gợi lại diễn biến, không khí của trận đánh hết sức sinh động.
+ Câu dài, ngắn xen kẽ nhau phù hợp với tâm trạng và diễn biến của trận đánh.
3. Lời suy ngẫm, lời bình của các bô lão :
- Nguyên nhân ta thắng địch thua: “Trời cho ta thế hiểm trở”, nhưng quyết định là ta có “ Nhân tài giữ cuộc điện an”.
“ Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng, Bởi đại vương coi thế giặc nhàn”.
=> Khẳng định vai trò của con người
“ anh minh hai vị thánh quân..”
=> Khẳng định sức mạnh, vị trí của con người ( Cảm hứng mang giá trị nhân văn và tầm triết lí sâu sắc.
=> Lời ca của các bô lão có giá trị như tuyên ngôn về chân lí: Bất nghĩa (như Lưu Cung) thì tiêu vong, người có nhân nghĩa (Ngô Quyền, Hưng Đao thì lưu danh muôn thuở.
“Những người bất nghĩa tiêu vong,
+ Tác giả khẳng định gì ?
+ Lời ca của khách như thế nào?
Khách ca ngợi điều gì?
Hoạt động 4: Đánh giá, tổng kết:
+ Nêu giá trị nội dung của bài phú?
+ Nêu giá trị nghệ thuật của bài phú.
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”.
=> Tác giả khẳng định sự vĩnh hằng của chân lí như dòng sông Bạch Đằng đêm ngày: “luồng to, sóng lớn dồn về biển Đông”.
4. - Lời ca và bình luận của khách.
+ Khách tiếp lời các bô lão ca ngợi sự anh minh của
“hai vị thánh” (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông), ca ngợi chiến tích trên sông Bạch Đằng.
+ Khách vừa biện luận, vừa khẳng định chân lí: Trong mối quan hệ giữa địa linh và nhân kiệt thì nhân kiệt là nhân tố quyết định.. Ta không chỉ thắng giặc bởi đất hiểm mà quan trọng là nhân tài có “đức cao, đức lành”.
lời ca vừa là lời tự hào, vừa có tư tưởng nhân văn cao đẹp.