III. Kết quả thực hiện chức năng nhiệm vụ của công ty
2. Kết quả phát triển nguồn nhân lực
Bảng 3 : Số lao động trong Công ty qua các năm
Đơn vị: Người Số lao động năm 2003 Số lao động năm 2004 Số lao động năm 2005
1.Ban giám đốc 3
1.Ban giám đốc 3
1.Ban giám đốc 2
2.VP.Cđoàn+Đ.uỷ 3
2.VP.Cđoàn+Đ.uỷ 4
2.VP.Cđoàn+Đ.uỷ 4
3.P.Tổ chức lao động 8
3.P.Tổ chức lao động 8
3.P.Tổ chức lao động 7
4.P. Ktế k.hoạch 6
4.P. Ktế k.hoạch 4
4.P. Kế hoạch thị trường 9
5.P. tài chính kế toán 14
5.P. tài chính kế toán 13
5.P. tài chính kế toán 13
6.P. QL thị trường 6
6.P. QL thị trường 4
6.P. QLDAKTĐT 9
7.P. QLDAKTĐT 11
7.P. QLDAKTĐT 10
7.P. Điều độ và Qlkho 85
8.P. Điều độ và Qlkho 86
8.P. Điều độ và Qlkho 83
8.Văn phòng Công ty 44
9.Văn phòng Công ty 44
9.Văn phòng Công ty 44
9.P.Tiêu thụ xi măng 259
10. P.Tiêu thụ xi măng 260
10. P.Tiêu thụ xi măng 243
10.Nghỉ ốm đau,thai sản 11
11. Nghỉ ốm đau,thai sản 20
11. Nghỉ ốm đau,thai sản 19
11.Nghỉ chờ hưu 12.Nghỉ chờ hưu
8
12.Nghỉ chờ hưu 2
12.XN Vận tải 60
13. XN Vận tải 96
13.XN Vận tải 83
13.XN Bao bì Vĩnh Tuy 92
14. Lớp học vỏ bao 17
14.Trung tâm thể thao Gtri 7
15.Trung tâm thể thao Gtrí 7
Tổng khu vực Hà Nội 565
Tổng khu vực Hà Nội 544
Tổng khu vực Hà Nội 602
15. CN Thái Nguyên 22
16. CN Thái Nguyên 23
16. CN Thái Nguyên 22
16. CN Lào Cai 23
17. CN Lào Cai 22
17. CN Lào Cai 25
17. CN Vĩnh Phúc 27
18. CN Vĩnh Phúc 27
18. CN Vĩnh Phúc 28
18. CN Phú Thọ 89
19. CN Phú Thọ 86
19. CN Phú Thọ 85
Toàn Công ty 726
Toàn Công ty 702
Toàn Công ty 762
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng, quyết định cơ cấu lao động trong tổ chức hợp lý hay không hợp lý, gọn nhẹ hay kềnh càng, hiệu quả hay kém hiệu quả, nó còn quyết định sự thành công trong hoạt động kinh doanh của tổ chức. Trong quá trình hình thành và phát triển, số lao động trong Công ty luôn được điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn và yêu cầu hoạt động của Công ty. Năm 1995 Công ty có 998 lao động, tuy nhiên tới năm 2003 số cán bộ công nhân viên trong công ty giảm xuống còn 726 người, năm 2004 chỉ còn 702 người, đó là do Tổng công ty xi măng Việt Nam chuyển giao hai chi nhánh Công ty vật tư kỹ thuật xi măng tại Hà Tây, hoà Bình về lại công ty xi măng Bỉm Sơn nhằm đẩy mạnh sản lượng tiêu thụ xi măng Bỉm Sơn, ngoài ra còn do sự tổ chức sắp xếp lại lao động hợp lý hơn, bớt cồng kềnh. Năm 2005 số lao động trong Công ty lại tăng lên 762 người, đó là do việc tiến hành hoạt động của xí nghiệp bao bì Vĩnh Tuy (92 người, trong
đó 7 người đã được đào tạo những kỹ thuật, chuyên môn về bao bì từ năm 2004).
Cơ cấu Công ty có sự thay đổi và điều chỉnh cho phù hợp hơn, phòng quản lý thị trường và phòng kinh tế kế hoạch hợp nhất thành phòng kế hoạch thị trường. Nhằm phục vụ tiêu chí kinh doanh có hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường. Ban giám đốc giảm từ ba người trong năm 2003, 2004 xuống còn hai người trong năm 2005, hiện nay ban giám đốc gồm giám đốc và một phó giám đốc kinh doanh.
Trong Công ty có phòng tiêu thụ xi măng là phòng có số lao động nhiều nhất, năm 2003 phòng này có 260 người, 243 người trong năm 2004, và 259 người vào năm 2005. Phòng tiêu thụ xi măng có cơ cấu như một chi nhánh nhỏ của Công ty, quản lý trực tiếp các cửa hàng và việc bán hàng tại Hà Nội, với hệ thống cửa hàng lên tới con số 115 cửa hàng số lao động tại phòng tiêu thụ xi măng là lớn nhất Công ty với đầy đủ các chức danh: Quản lý, nhân viên thống kê, kế toán, thủ quỹ và nhân viên trực tiếp bán hàng, mỗi trung tâm có khoảng 4-5 người làm công tác nghiệp vụ. Tuy nhiên, số lao động của phòng đông như vậy không có gì bất thường, thậm chí còn nên tăng thêm, bởi điều đó thể hiện việc kinh doanh của Công ty đang thuận lợi, các cửa hàng đang được mở rộng kéo theo số công nhân viên tăng lên.
Ngược lại phòng điều độ lại nên giảm số nhân viên, đây là phòng có số nhân viên tương đối đông: năm 2003 có 86 người, năm 2004 có 83 người, năm 2005 có 85 người. Phòng điều độ và quản lý kho gồm những lao động phụ trợ, lao động trung gian, không có yếu tố quyết định, đó là những lao động làm công việc giao nhận hàng, bốc dỡ hàng… những công việc này người bán hàng (các công ty xi măng) hay người mua hàng (các cửa hàng của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng) có thể làm trọn gói.
Các phòng ban khác, số người thay đổi không đáng kể.
Số lao động tại các chi nhánh tăng giảm không đáng kể, có sự ổn định về số lượng:
- Chi nhánh Thái Nguyên có số lao động qua các năm là: năm 2003: 22, năm 2004: 23 và 2005: 22 cán bộ công nhân viên; biến động nhân sự không đáng kể thể hiện sự ổn định của chi nhánh này, điều này được chứng minh qua sàn lượng xi măng tiêu thụ được các năm rất ổn định, năm 2003: 118 nghìn tấn, năm 2004: 119 nghìn tấn, năm 2005: 131 nghìn tấn.
- Chi nhánh Lào Cai có số lao động qua các năm là: năm 2003: 23, năm 2004: 22, năm 2005: 25 cán bộ công nhân viên; năm 2005 tăng 3 người so với năm 2004, tương ứng 13,7% và tăng 2 người so với năm 2003, tương ứng với 8,7%. SỞ dĩ có sự tắng lên như vậy là do những năm gần đây nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Lào Cai là một trong những tỉnh biên giới phía Bắc đầy tiềm năng với các khu công nghiệp. Không những thế, sự thông thương với Trung Quốc là yếu tố quan trọng giúp cải thiện đời sống của người dân Lào Cai, từ đó nhu cầu xây dựng cũng tăng cao, đồng nghĩa với việc tăng sản lượng xi măng bán ra trên địa bàn. Ngoài ra, nước ta đang có chủ trương phát triển du lịch, và Sapa (Lào Cai) là một điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước, xây dựng thêm nhiều khách sạn, nhà hàng để phục vụ lượng du khách khổng lồ đang đổ về Sapa là điều tất yếu, vì vậy lượng tiêu thụ xi măng của chi nhánh Lào Cai tăng nhanh từ 63 nghìn tấn năm 2003 lên 80 nghìn tấn năm 2005, số cửa hàng tại đây cũng tăng, điểu này giải thích tại sao số nhân viên lại tăng.
- Chi nhánh Vĩnh Phúc qua 3 năm chỉ tăng 1 lao động, hoạt động kinh doanh của chi nhánh luôn duy trì ở mức ổn định, tuy doanh thu không tăng vượt bậc như Thái Nguyên và Lào Cai nhưng cũng không giảm mạnh như Phú Thọ.
- Chi nhánh Phú Thọ số cán bộ công nhân viên giảm dần, năm 2003: 89 người, năm 2004: 86 người, năm 2005: 85 người. Sản lượng xi măng bán ra trên thị trường Phú Thọ giảm mạnh, dẫn đến số của hàng trên địa bàn không tăng mà còn giảm. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm nhân viên.
Hiện nay để hoạt động hiệu quả hơn, Công ty đang tiến hành cổ phần hoá, tinh giảm biên chế, gọn nhẹ cơ cấu tổ chức, số lao động năm 2006 là 635 người, đầu năm 2007 chỉ còn 335 người.