III. Nội dung tiến trình hoạch định chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp
5. Lựa chọn chiến lợc
Khi tiến hành lựa chọn chiến lợc các doanh nghiệp thờng dựa trên các căn cứ sau đây:
Thứ nhất: Dựa vào phát triển chung của ngành, mục tiêu chiến lợc dài hạn của doanh nghiệp.
Thứ hai : Dựa vào kết quả phân tích môi trờng kinh doanh và dự báo chiến l- ợc. Đây là yếu tố có tác động mạnh tới quá trình lựa chọn chiến lợc.
Thứ ba: Dựa vào các điều kiện cần thiết để tổ chức thực hiện chiến lợc:
Nguồn lực tài chính, nhân sự các quan niệm của ban lãnh đạo về định hớng chiến lợc, cơ cấu tổ chức bộ máy cũng nh tổ chức của công ty.
Thứ t: Dựa vào thái độ và các phản ứng của các đối tợng hữu quan, các đối t- ợng này có thể không cho phép doanh nghiệp lựa chọn chiến lợc dung hoà các mâu thuẫn đặt ra.
Thứ năm: Dựa vào các yếu tố thời diểm, xác định đúng cơ hội kinh doanh nhằm tranh thủ những cơ hội tốt nhất để tạo ra những chiến lợc thích hợp.
Dựa vào căn cứ ở trên doanh nghiệp sẽ đề ra cho mình một chiến lợc hợp lý mang tính khả thi. Chẳng hạn nh chiến lợc thâm nhập thị trờng đợc áp dụng khi:
Thị trờng sản phẩm cha bị bão hoà.
6. Tổ chức thực hiện chiến lợc .
Thực chất của việc thực hiện chiến lợc là việc chuyển giao trách nhiệm giữa các nhà hoạch định chiến lợc đến các quản trị viên theo chức năng nhiệm vụ.
Nếu nh trong xây dựng chiến lợc đặt vị trí nguồn nhân lực trớc các hành động và nhấn mạnh đến hiệu quả về mặt tài chính thì tổ chức thực hiện lại coi trọng hoạt động quản trị trong công việc và nhấn mạnh đến hiệu quả tác dụng. Tổ chức thực hiện đòi hỏi phải có nghiệp vụ kỹ thuật cao và sự tận tụy.
Công việc đầu tiên trong tổ chức thực hiện chiến lợc là phải dà soát lại các kết quả thu đợc từ trớc và các quyết định liên quan đến mục tiêu điều kiện môi trờng và chiến lợc. Công việc này một mặt giúp mọi ngời trong doanh nghiệp nắm bắt đợc chính xác nội dung và lý do thực hiện, đồng thời giúp phát hiện ra những bất cập trong quá trình xây dựng chiến lợc và có những điều chỉnh kịp thời.
Tiếp theo cần đánh giá điều chỉnh và đảm bảo mọi nguồn lực từ nhân sự đến tài chính và các hoạt động khác. Đây chính là bớc chuẩn bị và cụ thể hoá việc tổ chức thực hiện chiến lợc.
Và một vấn đề nữa là phải xác định cơ cấu tổ chức thực hiện chiến lợc. Đây là phơng diện quan trọng nhằm đảm bảo chiến lợc đợc thực hiện theo một lộ trình nhất định theo đúng chiến lợc - Kế hoạch đề ra và có những điều chỉnh thoả đáng.
7. Đánh giá chiến lợc.
Quá trình quản trị chiến lợc dẫn đến kết quả là nếu quyết định chiến lợc là
đúng thì sẽ đa doanh nhiệp lên một tầm cao mới và những kết quả đó sẽ mang ý nghĩa lâu dài, ngợc lại nếu đó là những quyết định chiến lợc sai sẽ dẫn đến hậu quả khó lờng thậm trí đa công ty đến bờ vực phá sản. Vì vậy việc so sánh đánh giá những kết quả đạt đợc với những mục tiêu đề ra từ đó có những tổng kết nhằm cung cấp thông tin góp phần tiền đề cho việc hoạch định chiến lợc tiếp theo.
chơng II :
Phân tích thực trạng quá trình hoạch định chiến l- ợc kinh doanh tại công ty da giầy hà nội.
I. Đặc điểm của công ty da giầy hà nội.
1. Quá trình hình thành và phát triển .
Công ty Da giầy Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nớc, là thành viên của Tổng công ty Việt Nam, trực thuộc Bộ công nghiệp. Công ty là một đơn vị kinh doanh hoạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về mặt tổ chức, công ty là một pháp nhân kinh doanh.
Hiện nay công ty có trụ sở tại số 409 đờng Nguyễn Tam Trinh, Quận Hai Bà Trng, Hà Nội. Đây là địa chỉ giao dịch, đồng thời là cơ sở sản xuất chính hiện nay của công ty.
Công ty da giầy Hà Nội trải qua một quá trình phát triển lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn, gắn liền với các giai đoạn lịch sử và quá trình phát triển của đất nớc. Quá trình đó có thể phân thành các giai đoạn sau:
- Giai đoạn một: Từ 1912-1954.
Năm 1912, là một nhà t sản ngời Pháp đã đầu t vào ngành da giầy và thành lập nên "công ty thuộc da Đông Dơng” tiền thân của Da giầy Hà Nội ngày nay.
Trong giai đoạn 1912-1954 công ty hoạt động dới cơ chế quản lý TBCN, công ty chủ yếu:
Hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận và sản xuất phục vụ nhu cầu quân đội Pháp trong chiến tranh xâm lợc Việt Nam và Đông Dơng, máy móc lúc này đợc
đa từ Pháp sang, hoạt động sản xuất sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, quy
mô sản xuất nhỏ. Sản lợng của công ty thời kỳ này chỉ đạt 200000-300000 chiếc /năm.
- Giai đoạn hai: 1954-1960
Năm 1954, sau ngày thủ đô giải phóng, công ty thuộc da Đông Dơng thuộc quyền quản lý của Việt Nam. Giai đoạn này công ty hoạt động dới hình thức hợp doanh, tên công ty đổi thành “Công ty thuộc da Đông Dơng “Quy mô sản xuất đợc mở rộng, sản lợng tăng từ 20%-30% so với năm trớc.
- Giai đoạn ba : 1980-1987.
Đầu năm 1960 chủ trơng quốc hữu hoá toàn bộ nền kinh tế, công ty thuộc da
đợc quốc hữu hoá chính thức, trở thành một xí nghiệp quốc doanh, có tên “Nhà máy da Thuỵ Khuê” trực tiếp thuộc công ty tạp phẩm bộ công nghiệp nhẹ (nay là bộ công nghiệp quản lý).
Trong giai đoạn này với sự hỗ trợ của nhà nớc, từ một nhà máy có quy mô
sản xuất nhỏ, sản xuất thủ công là chủ yếu, nhà máy đã đầu t mở rộng sản xuất
đa sản lợng tăng lên... Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của công ty, trong giai đoạn này, số lợng các công ty trong ngành còn ít chỉ có hai nhà máy là nhà máy da Thuỵ Khuê và nhà máy da Sài Gòn. Công ty có một thị trờng rộng lớn
để bao tiêu sản phẩm, đó là hệ thống đầu vào, đầu ra đợc u đãi, hoàn toàn do công ty tự lập kế hoạch và trình nhà nớc phê duyệt chứ không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trờng.
Do vậy, trong giai đoạn này công ty có bớc phát triển nhẩy vọt, số lợng có lúc lên tới 410 ngời, sản lợng tăng vọt doanh thu tăng từ 4,7 tỷ năm 1986 lên 6,1 tỷ năm 1987 lợi nhuận doanh thu đợc khá cao. Công ty luôn hoàn thành vợt mức kế hoạch nhà nớc giao.
- Giai đoạn bốn: 1987 –1992.
Do nhận thấy xu hớng phát triển mới của ngành da giầy với sự khác biệt cơ
bản của nó, nhà máy da giầy Thuỵ Khuê đợc tách ra khỏi công ty tạp phẩm và thành lập “Liên hiệp da giầy".
Tháng 12 năm 1992, nhà máy da Thuỵ Khuê đổi tên thành “Công ty da giầy Hà Nội “ theo quyết định 1310/ nhà nớc - Tài sản cố định ngày 17/12/1992 của bộ trởng bộ Công Nghiệp nhẹ kèm theo điều lệ thành lập công ty.
- Giai đoạn năm : 1992 - đến nay:
Ngày 24/3/1993, Khi đăng ký thành lập theo quyết định số 388 của hội đồng chính phủ Bộ trởng bộ Công Nghiệp nhẹ ra quyết định thành lập lại công ty, từ
đây công ty mang tên.
Tên : Công ty da giầy Hà Nội Tên giao dịch quốc tế :HALENXIM
(Ha Noi leather and foootwwear company)
Tháng 6 năm 1996, công ty Da giầy Hà Nội trở thành thành viên của công ty da giầy Việt Nam. Giai đoạn này là một thời kỳ khó khăn và có sự chuyển đổi một cách cơ bản về mặt hàng sản phẩm, phơng hớng của công ty Da giầy Hà Nội. Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 hệ thống các nớc XHCN ở Đông Âu sụp đổ, công ty mất đi thị trờng rộng lớn, doanh thu liên tục giảm sút, đến năn 1992 công ty chỉ còn 1,1 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, hầu hết các trang thiết bị, máy móc đợc trang bị từ thời Pháp thuộc hoặc từ những năm 50, 60. Tới thời kỳ này, thiết bị đã đợc khấu hao hết và rơi vào tình trạng lạc hậu nhng vẫn đợc sử dụng để sản xuất. Do vậy, sản phẩm của công ty bị hạn chế cả về số lợng và chất lợng. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, năm 1994 công ty đã nhập một dây chuyền sản xuất từ Italia và thực hiện chuyển giao công nghệ bằng nguồn vốn ODA của Italia. Song do có sự
thay đổi về mặt chính trị, tổ chức về phía đối tác, hợp đồng chuyển giao công nghệ trên không đợc thực hiện hoàn chỉnh. Đến nay, toàn bộ dây chuyền của công ty Da giầy Hà Nội đã đợc chuyển giao cho nhà máy da giầy Vinh. Công ty Da giầy Hà Nội thực hiện chuyển đổi mặt hàng sản xuất. Hiện nay, sản phẩm chính của công ty là giầy da, giầy vải.
2. Chức năng nhiệm vụ của công ty.
Theo điều lệ thành lập công ty, công ty Da giầy Hà Nội có các chức năng nhiệm vụ chính sau :
- Sản xuất các loại da và thiết bị ngành da phục vụ nhu cầu trong nớc và xuất khẩu, công ty sản xuất hai loại da chính là: Da cứng dùng cho chế biến dụng cụ và các thiết bị ngành da phục vụ chủ yếu cho cho công nghiệp, da mền chủ yếu phục vụ cho quân trang quân dụng và các hàng tiêu dùng khác phục vụ cho nhu cầu đời sống nhân dân.
Kinh doanh xuất nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị hoá chất thuộc ngành da. Sản xuất da công nghệ:
-Sản xuất giầy vải xuất khẩu.
Trong thời gian qua công ty đã lỗ lực phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trờng. Song do công ty luôn chịu sự tác động của môi trờng bên ngoài, công ty cũng cha hoàn toàn thích nghi với môi trờng kinh doanh thay đổi nên hiệu quả kinh tế của công ty còn thấp, lợi nhuận cha cao có những thời kỳ là con số âm.
Và thế kỉ mới đang mở ra, nó sẽ mang đến cho công ty nhiều cơ hội phát triển mới, nhng cùng với nó cũng có muôn vàn khó khăn, thách thức đòi hỏi công ty phải vợt qua. Vì vậy, công ty cần phải xác định cho mình một hớng đi
đúng đắn, một chơng trình hành động cụ thể để kịp thời tận dụng cơ hội, hạn chế rủi ro để đa công ty phát triển lên một tầm cao mới, đảm trách đợc vai trò và nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nớc giao phó.
3. Một số đặc điểm kinh tế – kỹ thuật có ảnh hởng đến quá trình hoạch định chiến lợc kinh doanh của công ty.
3.1 Đặc điểm quy trình công nghệ :
Công ty Da giầy Hà Nội hiện nay đang sản xuất hai loại sản phẩm chính là giầy da và giầy vải. Tuy là hai loại sản phẩm khác nhau, song do có cùng một
điểm chung là cả hai sản phẩm đều là sản phẩm giầy, vì vậy quy trình sản xuất hai loại sản phẩm này có những lét tơng đồng với nhau. Điều đó phần nào đã
ảnh hởng tới hình thức tổ chức của công ty nh trên đã trình bầy. Điểm khác nhau cơ bản giữa hai hình thức sản xuất giữa hai loại sản phẩm đó là nguyên liệu sử dụng khác nhau, máy móc thiết bị sử dụng không hoàn toàn giống nhau tuy nhiên ở nhiều bộ phận có những điểm tơng đồng. Nói chung quy trình sản xuất ở công ty Da giầy Hà Nội đợc khái quát nh sau:
Sơ đồ 1: Quy trình sản xuất ở công ty da giầy Hà Nội.
3.2 Đặc điểm về lao động - tiền lơng.
Công ty Da giầy Hà Nội trớc đây là một doanh nhiệp lớn, số công nhân
đông, khi rơi vào tình trạng khủng khoảng, vấn đề đặt ra đối với ban lãnh đạo là giải quyết công ăn, việc làm cho ngời lao động. Nhân thức đợc xu thế phát triển.
Năm 1980 đợc sự đồng ý của Tổng công ty da giầy Việt Nam, công ty Da giầy Hà Nội đã chuyển giao dây chuyền công nghệ sản xuất da cho nhà máy da Vinh. Đồng thời nhập hai dây chuyền sản xuất giầy vải và một dây chuyền giầy
Nguyên phụ
liệu Chặt
Gò May
Chính lý Hoàn tất
da từ Đài Loan. Việc vận hành dây chuyền sản xuất mới này đã thu hút hơn 500 lao động. Vì vậy vấn đề công ăn việc làm trong công ty đã đợc giải quyết, thu nhập tuy cha cao nhng cũng đảm bảo đời sống anh chị em công nhân.
Biểu 1: Tình hình sử dụng lao động ở công ty da giầy Việt Nam.
Chỉ tiêu Năm 2001
Tổng lao động (ngời).
Trong đó:
-Lao động trợc tiếp.
-Lao động gián tiếp.
+Trên đại học.
+ Đại học, cao đẳng.
+Trung cấp.
+công nhân kỹ thuật.
815
695 120 4 90 10 16 Nguồn: Phòng tổ chức.
Định mức sử dụng lao động cũng đợc áp dụng tại công ty Da giầy Hà Nội đối với công nhân trực tiếp sản xuất. Chẳng hạn, đối với xí nghiệp giầy vải, định mức sản xuất cho từng dây chuyền với 300 công nhân là 2000 sản phẩm trên ngày.
3.3 Đặc điểm về máy móc thiết bị.
Máy móc thiết bị là một yếu tố quan trọng, giá trị của nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn cố định của công ty (65% tổng vốn cố định). Trong hoạt động sản xuất của công ty.
Do đặc trng của ngành nên máy móc thiết bị đóng vai trò lớn trong việc nâng cao năng xuất lao động và chất lợng lao động của công ty.
Hiện nay, do vừa chuyển đổi mặt hàng sản xuất, toàn bộ máy móc thiết bị chủ yếu phục vụ cho quá trình sản xuất của công ty đều đợc nhập trong những năm gần đây (chủ yếu vào năm 1998). Máy móc thiết bị hiện nay đợc sử dụng khá tốt.
Biểu 2: Một số loại máy móc thiết bị chủ yếu.
Thứ tự Loại máy Đơn vị sử dụng
1 Máy chặt XN giầyda, XN vải
2 Máy lạng da XN giầy da
3 Máy bôi keo XN giầy da
4 Máy may công nghiệp XN giầy da, XN vải
5 Máy gò XN giầy da, XN vải
6 Máy hấp XN vải
7 Mý cán XN vải
8 Máy bắn đinh XN giầy da
Nguồn: Phòng ISO.
Hiện nay công ty đang đa hai dây chuyền vào sản xuất với công xuất 30.000
đôi/ tháng.
3.4 Đặc điểm nguyên nhiên vật liệu.
Với sản phẩm chính của công ty hiện nay là giầy vải và giầy da. Nguyên vật liệu sử dụng chủ yếu trong công ty là các loại vải, da, cao xu, hoá chất. Đối với hoạt động sản xuất của công ty hiện nay, nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng khá
cao trong giá thành phẩm. Chẳng hạn, đối với giầy vải, giá trị nguyên vật liệu chiếm từ 80% giá thành sản phẩm hoàn thành. Vì vậy việc quản lý việc thu mua
nguyên vật liệu, bảo quản hợp lý hạ giá thành nâng cao chất lợng sản phẩm, góp phần đẩy mạnh tiêu thụ và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Hiện nay, theo cơ chế quản lý của công ty, hàng năm phòng kế hoạch - Vật t lập kế hoạch tập chung cho toàn công ty về vấn đề cung cấp nguyên vật liệu.
Song do tính chất hoạch toán độc lập của các xí nghiệp thành viên, mỗi xí nghiệp có quyền lựa chọn nguyên vật liệu trong phạm vi xí nghiệp mình. Việc thu hút mua, tìm nguồn cung ứng nguyên vật liệu của công ty hiện nay hoàn toàn do công ty tự tìm kiếm, thoả thuận giá cả và điều kiện mua. Công ty không còn đợc Nhà nớc u đãi cũng nh điều động về nguồn nguyên liệu nh trớc đây.
Trong điều kiện hiện nay, một số loại nguyên vật liệu do công ty sử dụng vẫn cha đợc sản xuất ở nớc ta. Vì thế, bên cạnh việc sử dụng nguồn nguyên liệu trong nớc nh : Vải, cao xu và các loại da... Công ty còn sử dụng một số loại nguyên liệu nhập từ nớc ngoài nh: Hoá chất (hoàn toàn đợc nhập từ nớc ngoài), một số loại da cao cấp... việc phải nhập nguyên vật liệu từ nớc ngoài làm cho công ty gặp rất nhiều bất lợi: Về tỷ giá hối đoái, không chủ động, chi phí nhập khẩu và giao dịch cao.
Hiện nay để đảm bảo tiết kiệm nguyên vật liệu hạ thấp giá thành sản phẩm công ty đã đề ra định mức tiêu dùng đối với một số loại nguyên vật liệu chủ yếu nh sau:
Biểu 3: Định mức tiêu hao nguyên vật liệu.
Nguyên vật Lợng tiêu hao nguyên vật Lợng sản phẩm
1. Vải 1.m khổ 90 inch 6 đôi giầy vải
2. Cao xu 0.3 kg 1 đôi giầy vải
3. Da 2 bia (30cm x 30cm ) 1 đôi giầy vải
Nguồn: phòng kế hoạch.
Việc quy định định mức tiêu dùng nguyên vật liệu đã làm giảm lãng phí do lợng phế thải gây ra, tiết kiệm chi phí nâng cao trách nhiệm tới từng ngời lao
động.
3.5 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Theo điều lệ của công ty thì bộ máy quản lý của công ty đợc tổ chức theo kiểu trực tuyến - Chức năng thống nhất từ trên xuống dới. Tham gia vào hoạt
động quản lý của công ty bao gồm bốn bộ phận: Đảng lãng đạo chính quyền
điều hành, công đoàn và thanh niên tham gia quản lý. Cụ thể đợc mô hình hoá
nh sau.
Phòngquảnlýchấtlợng PGĐ Kỹ thuật Tổng công ty Da giầy Hà NộiCông ty da giầy Hà NộiHanshoes
XNcao su Phòngtổchứcbảovệ Trợ lý giámđốc
XNGò ráp Phòngtài chínhkế toán
Liên doanhhà việt tungshinh G iá m đ ố c Sơ đồ bộ máy tổ chức công ty da giầy Hà NộiHanshoes
Phòngxuấtnhậpkhẩu PGĐ Sản xuất
Trungtâmkỹthuậtmẫu
XNmay Vănphòngcôngty PGĐ Kinh doanh
Phòngthị tr-ờngnội địa
Xởng cơđiện Phòngkinhdoanh
3.1. Giám đốc:
Giám đốc là ngời có quyền điều hành cao nhất công ty, chỉ đạo mọi hoạt
động sản xuất, kinh doanh của toàn công ty, từ việc xây dựng chiến lợc, tổ chức thực hiện đến việc kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh và lựa chọn các phơng án và huy động các nguồn lực để tổ chức thực hiện.
Giám đốc chịu trách nhiệm về hoạt động quản lý và các cán bộ do giám đốc ký bổ nhiệm và đề nghị bổ nhiệm, bao gồm: các phó giám đốc, các trởng - phó phòng ban công ty, Chánh phó giám đốc các xí nghiệp, chánh phó giám đốc các xí nghiệp, chánh phó quản đốc phân xởng.
Giám đốc là đại diện cao nhất cho pháp nhân của Công ty, là ngời đại diện chủ sở hữu, chủ tài khoản và chịu trách nhiệm trớc Nhà nớc và Tổng công ty da giầy Hà Nội về các kết quả kinh doanh của công ty.
Giám đốc đợc sử dụng phơng thức và các kết quả kinh doanh của Công ty cấp cho các cấp, các cá nhân. Giám đốc chịu trách nhiệm cuối cùng về các hoạt
động đã uỷ quyền.
Giám đốc trực tiếp chỉ đạo các bộ phận sau:
- 3 phó giám đốc
- Phòng Tài chính - Kế toán - Phòng Tổ chức - Bảo vệ 3.2. Phó giám đốc kinh doanh
Chịu trách nhiệm trớc Giám đốc công ty về các hoạt động kinh doanh của Công ty.
- Là ngời điều hành công ty khi giám đốc đi vắng uỷ quyền.