2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và các doanh nghiệp ở Hà Tây
2.1.3. Khái quát về các doanh nghiệp ở Hà Tây
* Doanh nghiệp nhà nước
Tính đến 31/12/2006 toàn tỉnh Hà Tây có 82 DNNN, trong đó có 26 doanh nghiệp đang có quan hệ vay vốn NHNo&PTNT Hà Tây, giảm so với đầu năm là 6 doanh nghiệp, tỷ trọng DNNN có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT là 31,7% so với tổng DNNN có trên địa bàn. Số lượng DNNN trên địa bàn tỉnh ngày càng giảm (năm 2004 toàn tỉnh có 95 DNNN) do quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp và quá trình cổ phần hoá các DNNN chuyển sang công ty cổ phần. Hiện tại các DNNN hầu như đang trong tình trạng khó khăn, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thấp, thua lỗ. Tình trạng này đã gây khó khăn cho việc thu hồi nợ của ngân hàng đối với những doanh nghiệp đã có quan hệ vay vốn của ngân hàng. Ví dụ như: Công ty Xây dựng công trình giao thông số 116 hiện tại nợ NHNo&PTNT Hà Tây 34.176 triệu đồng, Công ty Xuất nhập khẩu may thêu Hưng Thịnh hiện tại nợ 33.346 triệu đồng.
Trước tình trạng hoạt động kinh doanh của khối các DNNN làm ăn gặp khó khăn như vậy NHNo&PTNT Hà Tây vẫn giữ mối quan hệ tốt với các doanh nghiệp này để có thể thu hồi được nợ và giữ chân họ bởi vì trong tương lai các DNNN sẽ cổ phần hoá chuyển sang công ty cổ phần hạch toán độc lập, làm ăn có hiệu quả hơn.
* Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Số lượng các DNNQD trên địa bàn tỉnh ngày càng nhiều, năm 2005 toàn tỉnh có 2164 doanh nghiệp, đến 31/12/2006 đã có tới 3200 doanh nghiệp và chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong số 3.200 doanh nghiệp thuộc khối DNNQD, hiện có 750 doanh nghiệp có quan hệ vay vốn NHNo&PTNT Hà Tây. Đây là thành phần kinh tế đang phát triển mạnh, có vai trò quan trọng đối với Hà Tây vì nó đã có đóng góp lớn
vào quá trình phát triển kinh tế của tỉnh nhà. Nhưng ở Hà Tây, khối doanh nghiệp này đa số được hình thành chủ yếu là từ kinh tế hộ gia đình và cá nhân phát triển lên, do vậy trình độ quản lý doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, quy mô sản xuất nhỏ, vốn tự có thấp, sức cạnh tranh yếu do công nghệ sản xuất còn lạc hậu, sổ sách kế toán chưa kịp thời, trong hoạt động sản xuất kinh doanh các vẫn chưa có những dự án, phương án phát triển vững chắc, lâu bền.
Chính những hạn chế trên mà trong thời gian qua hoạt động cho vay của NHNo&PTNT Hà Tây đối với khối các doanh nghiệp này gặp phải nhiều khó khăn vì những hạn chế đó đã làm ảnh hưởng đến việc kiểm tra, kiểm soát của ngân hàng đối với các doanh nghiệp. Do đó, việc nghiên cứu mở rộng hoạt động đầu tư cho vay của Nhno&PTNT Hà Tây đối với khối doanh nghiệp này đã bị hạn chế rất nhiều. Vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cho khối doanh nghiệp này NHNo&PTNT Hà Tây cần phải đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với các đối tượng doanh nghiệp này trên cơ sở nắm bắt được hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp để có những biện pháp thích hợp trong hoạt động cho vay.
2.2. Giới thiệu về NHNo&PTNT Hà Tây 2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 28-9-1991, Tổng giám đốc NHNo Việt Nam ra quyết định số 192/NH- QĐ thành lập chi nhánh NHNo tỉnh Hà Tây. Ngày 1-10-1991, NHNo tỉnh Hà Tây chính thức làm việc. Trụ sở được đặt tại số 34 đường Tô Hiệu, thành phố Hà Đông, Hà Tây.
Ban đầu, NHNo tỉnh Hà Tây có 7 phòng nghiệp vụ (đó là các phòng: Tổ chức cán bộ và đào tạo, Kiểm toán nội bộ, Kinh tế kế hoạch, Tín dụng, Kế toán, Hành chính và Kinh doanh Tổng hợp), 14 chi nhánh cơ sở, 28 phòng giao dịch và bàn tiết kiệm với tổng biên chế gồm 1181 cán bộ trên toàn tỉnh. Nhiệm vụ của ngân hàng được định rõ là “đi vay để cho vay” kinh doanh tiền với lãi suất dương. Song, thực tế hoạt động của ngân hàng còn bộc lộ nhiều yếu kém và tồn tại. Nguồn vốn huy động được là 77 tỷ đồng, dư nợ là 46 tỷ đồng, chủ yếu là cho vay doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã (chiếm 90%). Chất lượng vốn đầu tư thấp, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 17%
tổng dư nợ. Kết quả tài chính lỗ trong kinh doanh.
Cuối năm 1996, NHNo tỉnh Hà Tây được đổi tên thành NHNo&PTNT Hà Tây.
Năm 2006, NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây đã thực hiện xây dựng hệ thống mạng lưới hoạt động rộng khắp trên toàn tỉnh, đến nay có 76 điểm giao dịch trong đó có hội sở giao dịch NHNo&PTNT Tỉnh và 17 chi nhánh ngân hàng cấp II, 45 ngân hàng cấp III và 9 phòng giao dịch trực thuộc NHNo tỉnh, bình quân cứ 4 xã lại có một điểm giao dịch gần dân, sát dân, tạo thuận lợi tăng tiện ích cho người dân sử dụng các loại sản phẩm và dịch vụ của NHNo, đã thúc đẩy mở rộng thị phần kinh doanh của NHNo.
Tính đến thời điểm hiện nay, trên toàn tỉnh Hà Tây có 17 NHNo&PTNT huyện, thị xã; 45 Ngân hàng cấp 3 và 9 phòng giao dịch trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh trung tâm NHNo&PTNT Hà Tây, có chức năng chỉ đạo hệ thống các chi nhánh cấp dưới. Dưới các chi nhánh cấp huyện còn có các chi nhánh loại 4.
NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây có các hoạt động chính như sau:
* Về hoạt động huy động vốn: Ngân hàng huy động vốn của các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội, bao gồm các loại tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực thi việc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu… ngắn hạn, dài hạn do NHNo&PTNT Việt Nam. Mặt khác, ngân hàng cũng tiếp nhận vốn tài trợ, vốn uỷ thác đầu tư từ ngân sách nhà nước, từ các tổ chức quốc tế, quốc gia và các cá nhân ở trong và ngoài nước cho các chương trình các dự án đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
* Về cho vay, NHNo&PTNT Hà Tây cho vay ngắn hạn đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, cho vay trung và dài hạn với các dự án có hiệu quả, mục tiêu tài trợ tuỳ tính chất và khả năng nguồn vốn. Ngân hàng được giao nhiệm vụ chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá.
* Thực hiện các hoạt động kinh doanh ngoại tệ, công tác thanh toán quốc tế thông qua mạng SWIFT NHNo&PTNT Việt Nam, thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh ngoại tệ, các dịch vụ kiều hối và chuyển tiền, mở tài khoản cho khách hàng nước ngoài.
* Ngoài ra, Ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ khác cho các khách hàng mà NHNN cho phép.
Dưới đây là mô hình cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây
NHNo Thanh Xuân
Nam
17 NHNo huyện, thị xã
(cấp II) Phòng giao
dịch Hà Đông
NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây (Chi nhánh cấp I)
PGD số 1
PGD số 6 PGD số 3 PGD số 2
PGD số 5
PGD số 7 PGD số 4
PGD số 8 PGD số 9
Tổ Tín dụng Tổ Ktoán NQuỹ
Các phòng NHNo Huyện
45 NHN o cấp
III
Tổ kế toán
Tổ tín dụng Ktoán NQuỹ
Tín dụng
Giao dịch HC nhân sự TCCB Đào tạo
KToán và NQuỹ
Thẩm định KDNtệ và TTQT
Nvốn và KHTH
Tín dụng
Hành chính Công đoàn
Vi tính
Tổ Thẻ Tổ tiếp thị Đlý nhận lệnh CK
Kiểm soát Các phòng
NHNo Tỉnh
2.2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hà Tây 2.2.2.1. Hoạt động huy dộng vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM nói chung và NHNo&PTNT Hà Tây nói riêng. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác của mình. Hoạt động huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó lại là một hoạt động rất quan trọng, không có hoạt động này xem như không có các hoạt động khác của NHTM.
Với phương châm chủ động khai thác nguồn vốn nội tỉnh để chủ động mở rộng cho vay cân đối tại chỗ, NHNo&PTNT Hà Tây trong thời gian qua đã chú trọng đến công tác huy động các loại vốn ngắn hạn, dài hạn để chủ động mở rộng cho vay trung và dài hạn, đáp ứng nhu cầu cho vay có hiệu quả trên địa bàn đồng thời hỗ trợ vốn cho toàn ngành. Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Hà Tây trong những năm gần đây được thể hiện thông qua bảng số liệu và biểu đồ sau:
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn phân theo tính chất nguồn vốn huy động
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
2004 2005 2006
Số tiền Tỷ
trọng Số tiền Tỷ
trọng Số tiền Tỷ trọng 1. TG dân cư 2.231.129 56,8% 2.962.660 62,2% 3.858.323 67,9%
2. TG TCKT-XH 511.949 13,1% 634.907 13,3% 695.603 12,3%
3. TG TCTD 360.214 9,2% 239.522 5% 25.310 0,4%
4. TG UTĐT 821.500 20,9% 930.200 19,5% 1.100.369 19,4%
5. Tổng 3.924.792 100% 4.767.289 100% 5.679.688 100%
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004, 2005, 2006)
Bảng số liệu trên được thể hiện trên biểu đồ sau:
Biểu đồ 1:
Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn
0 500000 1000000 1500000 2000000 2500000 3000000 3500000 4000000
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Triệu đồng
Tiền gửi dân cư Tiền gửi TCKT- XH Tiền gửi TCTd
Tiền gửi uỷ thác đầu tư
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy: Nguồn vốn huy động của chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây trong những năm gần đây đạt mức tương đối cao. Tuy tốc độ tăng trưởng giữa các năm không đồng đều nhưng đều vượt mức kế hoạch được giao. Cụ thể là: Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2004 là 3.924.792 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng 17,22%, đạt 97,5% kế hoạch được giao. Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2005 là 4.924.792 triệu đồng, tăng 842.497 triệu đồng so với đầu năm, tốc độ tăng trưởng 21,5%, đạt 106% kế hoạch. Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2006 là 5.679.688 triệu đồng, tăng 912.399 triệu đồng so với đầu năm, tốc độ tăng trưởng 19,2%, đạt 103,3% kế hoạch được giao.
Trong tổng nguồn huy động thì tiền gửi dân cư luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và liên tục tăng cả về số tuyệt đối và số tương đối qua các năm. Năm 2004, số tiền huy đông từ dân cư là 2.231.129 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 56,8% tổng nguồn vốn. Năm 2005, số tiền huy động từ dân cư là 2.962.600 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 62,2% tổng
nguồn vốn. Năm 2006, số tiền huy động từ dân cư là 3.858.323 triêu đồng, chiếm tỷ trọng 67,9% tổng nguồn vốn. Tình hình này cho ta thấy mức độ tin cậy của dân cư đối với ngân hàng, NHNo&PTNT Hà Tây đã để lại được hình ảnh tốt trong lòng dân cư.
Nguồn tiền gửi uỷ thác đầu tư và tiền gửi của các tổ chức kinh tế xã hội ổn định qua các năm, tiền gửi uỷ thác đầu tư luôn chiếm tỷ trọng khoảng 19% đến 20% tổng nguồn vốn, tiền gửi của các tổ chức kinh tế xã hội luôn chiếm tỷ trọng khoản 12%
đến 13% tổng nguồn vốn.
Ngược lại, tiền gửi của TCTD ngày càng giảm cả về số tuyệt đối và số tương đối được thể hiện thông qua số tiền huy đông được và tỷ trọng: năm 2004 số tiền huy động được là 360.214 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 9,2% tổng nguồn vốn, năm 2005 số tiền huy được là 239.522 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 5% tổng nguồn vốn, năm 2006 số tiền huy động được 25.310 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 0,4% tổng nguồn vốn.
Nếu phân loại theo thời hạn huy động nguồn vốn, tình hình huy động nguồn vốn của NHNo&PTNT Hà Tây trong thời gian qua đã được những kết quả và được thể hiện thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn phân theo thời hạn huy động
Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu
2004 2005 2006
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ
trọng Số tiền Tỷ trọng 1. TG không kỳ hạn 537.890 13,7% 657.437 13,8% 675.688 13,6%
2. TG kỳ hạn <12T 814.804 20,8% 809.309 17% 80.154 1,6%
3. TG kỳ hạn >= 12T 2.572.098 65,5% 3.300.543 69,2% 4.201.763 84,8%