Các nhân tố thuộc về Ngân hàng Thương mại a) Trình độ cán bộ tín dụng

Một phần của tài liệu Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay ở chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình.DOC (Trang 24 - 30)

1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

1.2.2 Các hình thức cho vay của Ngân hàng Thương mại .1 Khái niệm cho vay

1.2.5.1 Các nhân tố thuộc về Ngân hàng Thương mại a) Trình độ cán bộ tín dụng

Con người là trung tâm của xã hội, là chủ thể của hành động. Con người có ý nghĩa quyết định với bất cứ hoạt động kinh tế xã hội nào. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng cũng vậy, cán bộ tín dụng sẽ đóng vai trò quyết định nhất đến hiệu quả món vay, bởi cán bộ tín dụng là người hiểu rõ nhất về khách hàng và là người sẽ ra quyết định cho vay. Khi xét đến một cán bộ tín dụng người ta thường đánh giá ở hai phương diện.

- Đạo đức nghề nghiệp : một cán bộ tín dụng có phẩm chất đạo đức tốt sẽ chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của pháp luật và của ngân hàng, họ có một thái độ cẩn trọng đích đáng khi làm việc và như vậy sẽ không phạm phải những sai lầm mang tính nguyên tắc khi ra quyết định tín dụng.

- Trình độ chuyên môn : Bao gồm toàn bộ những kiến thức thực tiễn và lý luận. Người cán bộ tín dụng yêu cầu phải có chuyên môn tốt để có thể nhận

biết được đâu là một khách hàng tốt đâu là một khoản vay tốt có tính khả thi đem lại lợi nhuận cho cả người vay và ngân hàng.

b) Chính sách tín dụng.

Chính sách tín dụng là một hệ thống các văn bản được xây dựng và hoàn thiện trong nhiều năm phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lợi.

Do các ngân hàng khác nhau thì có những điều kiện thuận lợi khác nhau và có những khó khăn riêng nên mỗi ngân hàng đều có chính sách tín dụng riêng của mình sao cho phù hợp nhất với điều kiện và chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng. Nếu ngân hàng có qui mô vốn lớn sẵn sàng theo đuổi chính sách tín dụng mạo hiểm sẽ nới rộng các khách hàng vay, qui mô, giới hạn các khoản vay tất nhiên sẽ làm tăng doanh số cho vay và có thể dẫn tới lợi nhuận cao đồng thời làm tăng hiệu quả cho vay. Tuy nhiên cũng có thể sẽ làm nợ quá hạn tăng cao làm chất lượng tín dụng bị giảm sút.

Hoạt động tín dụng vốn là hoạt động bao trùm cả ngân hàng. Các khoản vay thường chiếm một tỷ lệ rất cao trong cơ cấu tài sản có, đây là tài sản sinh lời cao nhất và cũng có rủi ro cao nhất. Do vậy đòi hỏi một chính sách tín dụng rõ ràng đẩy đủ liên tục thay đổi phù hợp với tình hình mới. Một chính sách tín dụng tốt và hoàn thiện sẽ giúp cho các cán bộ tín dụng hiểu được nhiệm vụ của họ là phải làm những gì, khi nào có thể ra quyết định cho vay khi nào không, từng nhân viên ngân hàng biết được chức năng nhiệm vụ của họ trong cả qui trình cho vay không gây sự nhầm lẫn chồng chéo hay thiếu mất một bước nào đó trong qui trình. Từ đó sẽ tạo ra sự chuyên môn hóa cao, sự kết hợp nhịp nhàng giữa các nhân viên, sự thống nhất trong hoạt động tín dụng,

đồng thời làm hạn chế rủi ro cho hoạt động tín dụng và làm tăng hiệu quả cho hoạt động tín dụng.

Nội dung cơ bản của một chính sách tín dụng : bao gồm toàn bộ những vấn đề liên quan đến tín dụng : Qui mô, lãi suất, kì hạn, đảm bảo, phạm vi, các khoản tín dụng có vấn đề và các nội dung khác.

- Chính sách khách hàng : Khách hàng nhận tín dụng của ngân hàng rất đa dạng có thể là các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước, cá nhân người tiêu dùng hay các ngân hàng, các công ty tài chính…Do vậy ngân hàng thường tiến hành phân loại khách hàng để biết đâu là khách hàng mục tiêu, khách hàng truyền thống quan trọng, …Từ đó sẽ thiết lập các nội dung quan trọng để ưu đãi cũng như hạn chế những khách hàng đến vay vốn.

- Chính sách qui mô và giới hạn tín dụng : Ngân hàng cam kết tài trợ cho khách hàng một món tiền hoặc hạn mức nhất định. Ngân hàng có thể tài trợ tối đa bằng nhu cầu của khách hàng khi số tiền tài trợ phù hợp với các điều luật ( qui định ) và đúng với tính toán của ngân hàng về rủi ro và sinh lời.

Thông thường ngoài các giới hạn do luật định mỗi ngân hàng đều có qui định riêng về qui mô và các giới hạn cho vay như : qui mô cho vay tối đa với giám đốc khu vực hoặc chi nhánh, qui mô tối đa với từng ngành nghề và từng khách hàng…sao cho những qui mô tối đa này đảm bảo kết hợp tính sinh lời với mức rủi ro ờ mức chấp nhận được cho mỗi khoản vay.

- Lãi suất và phí suất tín dụng : Ngân hàng có các mức lãi suất tín dụng khác nhau tùy theo kì hạn, tùy theo các loại tiền và tùy theo loại khách hàng. Lãi suất tín dụng do Ban giám đốc ngân hàng thông qua và được phổ biến đến mọi cán bộ tín dụng, bao gồm lãi suất cơ bản và lãi suất bình quân đối với các kì hạn, các ngành nghề và các lĩnh vực chủ yếu. Chính sách lãi suất và phí suất tín dụng thường yêu cầu phải khuyến khích tính linh hoạt, đa dạng trong

việc đặt giá trên cơ sở đảm bảo khả năng sinh lời cũng như khả năng cạnh tranh của ngân hàng.

- Thời hạn tín dụng và kì hạn nợ : Chính sách thời hạn tín dụng và kì hạn nợ do các nhà quản lý ngân hàng đưa ra nó được xác lập trên cơ sở giải quyết mối quan hệ thời hạn của nguồn( do người gửi và người cho ngân hàng vay quyết định ) và thời hạn tài trợ ( xuất phát từ yêu cầu của người vay ). Từ cơ sở này ngân hàng sẽ đưa ra kì hạn nợ cụ thể đảm bảo cân bằng kì hạn trung bình và khả năng thanh khoản cũng như độ rủi ro cho ngân hàng.

- Các khoản đảm bảo : Chính sách đảm bảo gồm các qui định về các trường hợp tài trợ cần đảm bảo bằng tài sản, các loại đảm bảo cho mỗi loại hình tín dụng, danh mục các đảm bảo được ngân hàng chấp thuận, tỷ lệ phân trăm cho vay trên đảm bảo, đánh giá và quản lý đảm bảo. Chính sách đảm bảo yêu cầu phải đảm bảo được sự an toàn cho ngân hàng nhưng cũng đồng thời không làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng.

- Chính sách đối với các tài sản có vấn đề : Do hoạt động của ngân hàng luôn gắn với rủi ro nên sẽ phát sinh những khoản nợ xấu yêu cầu khoanh vùng để xử lý giải quyết. Chính sách với các tài sản có vấn đề sẽ qui định về cách thức xác định nợ xấu, các tài sản đáng ngờ, tỷ lệ nợ xấu có thể chấp nhận được, mức độ xấu của khoản nợ, trách nhiệm xử lý giải quyết, phạm vi thanh lý và khai thác.

c) Chất lượng thông tin tín dụng

Thông tin là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng nhất cho quyết định cấp tín dụng. Nếu ngân hàng có một kênh thông tin tốt, một hệ thống thu thập thông tin hiện đại mau chóng chính xác, và đầy đủ. Ngân hàng có thể dễ dàng nhận biết được đâu là khách hàng tốt và từ đó ra quyết định cho vay đúng đắn, ngược lại nếu thông tin sai lệch ngân hàng có thể sẽ cấp các khoản tín

nợ và từ đó có thể gây ra những khoản nợ xấu ảnh hưởng hiệu quả cho vay của ngân hàng.

d) Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Các ngân hàng khác nhau, hay một ngân hàng ở những thời kỳ khác nhau, những nơi khác nhau sẽ có chiến lược kinh doanh khác nhau. Nếu một Ngân hàng Thương mại nằm trong một thành phố lớn, nơi có hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, đang theo đuổi chiến lược kinh doanh an toàn hơn, Ngân hàng muốn thu hẹp tỷ trọng dư nợ cho vay trong tổng tài sản có, hạn chế không cho vay nhưng khoản vay lớn, tập trung phát triển các tài sản có khác, như vậy sẽ làm giảm doanh số cho vay, giảm thu nhập từ cho vay và như vậy hiệu quả cho vay sẽ bị giảm xuống xét trên phương diện kinh tế.

e) Hiệu quả huy động vốn

Lãi suất cho vay được cấu thành bởi chi phí vốn chủ sở hữu, chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động, chi phí rủi ro thanh khoản và lợi nhuận kỳ vọng.

Như vậy chi phí huy động vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất cho vay, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay. Một ngân hàng có lợi thế về huy động vốn, họ huy động được nhiều vốn với chi phí thấp sẽ dẫn đến lãi suất cho vay thấp hơn mà vẫn đảm bảo lợi nhuận cho vay cao đồng thời có nhiều vốn để tài trợ cho các khoản cho vay lớn tất yếu sẽ dẫn đến hoạt động cho vay đạt hiệu quả cao.

f) Công tác tổ chức quản lý ngân hàng

Tổ chức quản lý là một khâu quan trọng trong bất kỳ một tổ chức nào dù là tổ chức kinh tế hay tổ chức xã hội. Trong một ngân hàng, sự tổ chức tốt, quản lý linh hoạt sẽ làm cho các hoạt động nói chung của ngân hàng vận hành suôn sẻ và đạt hiệu quả cao, hoạt động tín dụng nói riêng của ngân hàng sẽ có được tính chuyên môn cao cùng với sự kết hợp hài hòa giữa tính sinh lợi và tính rủi ro.

g) Công tác kiểm tra kiểm soát

Một hoạt động bất kỳ nào khi đưa vào thực tiễn cũng cần có sự kiểm tra kiểm soát chặt chẽ để hoạt động đó đi đúng hướng đạt đến cái đích cuối cùng cần phải có. Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng vậy, sự kiểm tra kiểm soát nhân viên chặt chẽ sẽ giúp nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật lao động, các qui định về tín dụng của ngân hàng và nhà nước. Giúp các nhân viên đưa ra những quyết định thận trọng đúng với các chuẩn mực của qui trình cho vay. Hơn nữa về phía khách hàng khi khách hàng có những hành động sai mục đích ban đầu ngân hàng có hệ thống kiểm soát tốt sẽ ngay lập tức phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời tránh được những mất mát rủi ro tín dụng gặp phải từ phía khách hàng.

1.2.5.2 Các nhân tố thuộc về khách hàng vay vốn

Hiệu quả của hoạt động cho vay phụ thuộc rất nhiều vào khách hàng vay vốn, bởi khoản vay chỉ có thể đạt hiệu quả khi khách hàng hoàn trả được đầy đủ cả lãi và vốn vay đúng thời hạn vay, điều này chỉ có thể xảy ra khi khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả. Khi xét về khả năng trả vốn và lãi của khách hàng người ta thường xét các yếu tố sau:

a) Khả năng tài chính : có vốn tự có đủ để hoạt động và cạnh tranh, đồng thời trang trải được nợ nần khi kinh doanh không đạt được mục tiêu.

b) Tình hình hoạt động kinh doanh : Việc sử dụng vốn đưa vào sản xuất kinh doanh hiệu quả sẽ giúp khách hàng vay vốn thu được doanh thu theo dự kiến và hoàn trả chi phí lãi vay. Ngược lại kinh doanh không tốt sẽ không thể trả được nợ.

c) Đạo đức nhân cách của khách hàng : Một khách hàng có nhân cách phẩm chất đạo đức tốt sẽ tiến hành sử dụng khoản vay theo đúng mục đích đã nêu

khi hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không, người có phẩm chất tốt vẫn thu xếp trả nợ ngân hàng đúng thời hạn.

Một phần của tài liệu Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay ở chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình.DOC (Trang 24 - 30)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(83 trang)
w