CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
2.2. Thực trạng về rủi ro trong hoạt động cho vay của Chi nhánh
2.2.1. Một số chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong hoạt động cho vay của Chi nhánh NHN0&PTNT Quảng An
Để có thể thấy một cách tồng quát về thực trạng rủi ro trong hoạt động cho vay của Chi nhánh NHN0&PTNT Quảng An ta có thể quan tâm đến một vài chỉ tiêu như: Nợ quá hạn, rủi ro tín dụng tiềm ẩn…
2.2.1.1. Nợ quá hạn
Nợ quá hạn không thể phản ánh được chính xác về chất lượng cho vay cũng như những rủi ro trong hoạt động cho vay . Tuy nhiên đây lại là chỉ tiêu quan trọng nhất khi xem xét rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Vì rủi ro trong hoạt động cho vay xuất phát nhiều từ những món nợ quá hạn.
BẢNG 2.9:TÌNH HÌNH NỢ QUÁ HẠN TẠI CHI NHÁNH
Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Chênh lệch %
Tổng dư nợ 403.6 666.667 263.067 65.18%
Nợ quá hạn 6.72 14.65 7.93 118%
Tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ
1.665% 2.2% 0.535% 32.13%
Nợ khoanh 0.2 0.39 0.19 95%
Nợ tồn đọng 0.4 0.83 0.43 107.5%
(Nguồn báo cáo kết quả rủi ro tín dụng)
Theo bảng tổng kết ta thấy: tất cả các chỉ tiêu năm 2006 so với năm 2005 ở đây đều tăng lên một đáng kể. Cùng với kết quả đạt được của hoạt động huy động vốn tăng lên thì tổng dư nợ năm 2006 tăng lên 65.18%., đồng thời nợ quá hạn lại tăng lên rất nhanh. Chỉ trong một năm nợ quá hạn đã tăng 7.9 tỷ đồng hay 117.91%. Theo dõi thêm ở bảng 7 ta thấy là tỷ lệ nợ xấu xấp xỉ với nợ quá hạn (nợ nhóm 2 rất it mà chủ yếu là nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5) nên khả năng xảy ra rủi ro là rất cao. Điều này là không tốt đối với chi nhánh vì nợ quá hạn đã nhanh hơn tốc độ tăng của tổng dư nợ. Vậy chi nhánh cần phải xem xét và đánh giá lại khâu thẩm định để tìm ra nguyên nhân tăng nhanh của nợ quá hạn để tìm biện pháp thích hợp giúp cho việc thu nợ đúng hạn một cách tốt hơn để tránh gây thiệt hại cho chi nhánh.
Về nợ khoanh: đây là những khoản nợ mà khi ngân hàng cho vay các doanh nghiệp nhà nước, sau khi xem xét thấy doanh nghiệp cần có them thời gian để thu hồi tiền và chi trả đầy đủ cho ngân hàng thì ngân hàng cho khoanh khoản nợ đó lại trong một thời gian nhất định. Năm 2006 nợ khoanh của chi nhánh đã lên 95%. Như vậy nợ khoanh của năm trước chưa đòi được song năm sau lại tiếp tục tăng, và cũng tăng nhanh hơn tổng dư nợ.
Về nợ tồn đọng năm 2006 đã tăng lên 107%. Nói chung hiệu quả của việc cho vay của chi nhánh trong 2 năm qua là không cao. Trong khi dư nợ tăng lên thì nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ tồn đọng lại tăng lên nhanh chóng.
Đây là một kết quả không tốt của chi nhánh.
BẢNG 2.10: NỢ QUÁ HẠN THEO THỜI GIAN
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Chênh
lệch %
Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Nợ quá han
đến 180 ngày 1.81 27% 4.719 32.32% 2.909 160.72%
Nợ quá hạn
181-360 ngày 1.445 21.567% 2.35 16.1% 0.905 62.63%
Nợ khó đòi 2.73 40.75% 7.35 50.34% 4.62 169.23%
Nợ chờ xử lý 0.717 10.683% 0.186 1.24% -0.534 74.48%
Tổng 6.72 100% 14.65 100%
(Nguồn báo cáo kết quả rủi ro tín dụng)
Khi phân theo thời gian đặc biệt chú ý đến khoản nợ khó đòi. Đây là khoản nợ đã quá một thời kỳ gia hạn nợ. Cả hai năm tỷ trọng của nợ khó đòi trong nợ quá hạn vẫn giữ ở mức trên dưới 50%. Song vì nợ quá hạn và nợ xấu tăng nhanh nên năm 2006 khoản nợ này đã tăng khá cao, tăng lên đến 4.62 tỷ đồng tức là tăng 169.23%. Bên cạnh đó thì nợ quá hạn đến 180 ngày tăng cũng rất nhanh
Những khoản nợ mà khách hàng trong thời gian vay nợ vi phạm pháp luật, ngân hàng không kiểm soát được phải chờ tòa án phán quyết đó là khoản nợ chờ xử lý. Khoản nợ này thì ngân hàng không thể kiểm soát được và phải chờ tòa án phán quyết nên khả năng thu hồi là khó khăn, mặt khác ngân hàng còn phải mất một khoản chi phí trong việc nhờ tòa án giải quyết. Trong trường hợp con nợ có quá nhiều chủ nợ thì việc phát mại tài sản cũng khó có thể thu hồi được vốn. Những khoản nợ như thế này có thể kéo dài trong vài
năm. Chỉ tiêu này của chi nhánh đã giảm rất nhiều. Năm 2005 là 0.715 tỷ đồng đến năm 2006 chỉ còn 0.181 tỷ đồng. như vậy đã giảm đi 0.534 tỷ đồng.
Vì khoản nợ này là rất khó đòi và phải mất thời gian công sức và chi phí nên kết quả này là một thành công lớn của chi nhánh..
BẢNG 2.11: NỢ QUÁ HẠN THEO TÀI SẢN ĐẢM BẢO Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Chênh
lệch %
Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Nợ quá hạn có tài
sản đảm bảo 4.44 66.27% 9.53 65.27% 5.09 114.64%
Nợ quá hạn không
có tài sản đảm bảo 2.262 33.73% 5.075 34.73% 2.813 124.36%
Tổng 6.72 100% 14.65 100%
(Nguồn báo cáo kết quả rủi ro tín dụng)
Theo cơ cấu nợ phân theo tài sản thì nợ quá hạn có tài sản đảm bảo chiếm tỷ trọng cao gần gâp đôi nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo ở cả 2 năm 2005 và 2006. Tuy nhiên tốc độ tăng lên của năm 2006 lại gần như nhau.
Tài sản đảm bảo là điều mà cán bộ tín dụng phải luôn nghĩ đến để nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của chi nhánh. Những khoản nợ không có tài sản đảm bảo chủ yếu là cấp cho các công trình của Nhà nước và cho các cán bộ công nhân viên. Chỉ tiêu này ở đây bằng 1/2 chỉ tiêu nợ quá hạn có tài sản đảm bảo. đây là một tỷ trọng khá cao mà chi nhánh cần phải xem xét.
Tóm lại tình hình nợ quá hạn tại Chi nhánh NHN0&PTNT Quảng An tăng lên ngày một cao đây là dấu hiệu không tốt cho toàn chi nhánh vì nó nói lên rằng rủi ro trong hoạt động cho vay là khá lớn.
2.2.2. Rủi ro tiềm ẩn
Qua phân tích tình hính sản xuất kinh doanh và các báo cáo tài chính của khách hàng thì tổ chức tín dụng thực hiện chấm điểm. từ đó thấy được rủi ro tiềm ẩn của chi nhánh.
Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của NHNo &
PTNT Việt Nam là một quy trình đánh giá xác suất một khách hàng tín dụng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính của mình đối với ngân hàng cho vay như không trả được lãi và gốc nợ vay khi đến hạn hoặc vi phạm các điều kiện tín dụng khác.
BẢNG 2.12:KẾT QUẢ XẾP HẠNG Xếp loại Số doanh nghiệp
A 18
B 28
C 14
D 12
(Nguồn báo cáo kết quả rủi ro tín dụng)
Căn cứ vào những chỉ tiêu và phi tài chính để xếp hạng. Trong đó loại A là những khách hàng được đánh giá là tốt, có tình hình tài chính ổn định, hoạt động có hiệu quả có triển vọng phát triển tốt và đạo đức tín dụng tốt.
Loại B là trung bình, loại C là yếu kém, loại D là rất yếu kém.
Nói chung kết quả trên bảng cho thấy, số doanh nghiệp xếp loại C là nhiều nhất. Cho thấy rủi ro tiềm ẩn của chi nhánh không phải là cao lắm nhưng vẫn cần có biện pháp đề phòng.
2.3. Đánh giá và nhận xét thực trạng rủi ro trong hoạt động cho vay của