CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG
1.3 Các biện pháp quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM
Hoạt động này luôn tồn tại hai măt là sinh lời và rủi ro. Hầu như các thua lỗ của ngân hàng thương mại là từ hoạt động cho vay. Song không có cách nào để loại trừ rủi ro hoàn toàn mà phải quản lý một cách chặt chẽ. Đứng trước
quyết định cho vay, cán bộ ngân hàng phải cân nhắc mâu thuẫn giữa sinh lời và rủi ro. Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng là:
- Đạt hiệu quả cao, trong giới hạn rủi ro có thể giám sát, chịu đựng được
- Thực hiện đúng các quy định của nhà nước, quy định của luật pháp - Đảm bảo hoạt động an toàn hiệu quả phát triển
Vì thế quản lý rủi ro tín dụng là một nội dung quan trọng của ngân hàng thương mại
1.3.1. Hạn chế các khoản cho vay có vấn đề, nợ quá hạn, nợ khó dòi
1.3.1.1. Thực hiện các quy định về an toàn tín dụng được ghi trong luật các tổ chức tín dụng và trong các nghị định của ngân hàng Nhà nước.
Các quy định nêu rõ những trường hợp cấm các ngân hàng không được tài trợ, điều kiện để ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ. Ví dụ như cho vay một khách hàng thì không được vượt quá tỷ lệ phần trăm trên vốn của chủ sở hữu, không được cho vay đối với các thành viên Hội đồng quản trị của chính ngân hàng…
1.3.1.2. Xác định danh mục các khoản tài trợ với các mức rủi ro khác nhau.
Các loại khách hàng khác nhau, các đối tượng cho vay khác nhau thì sẽ có rủi ro khác nhau.
Tín dụng thương mại: Rủi ro liên quan tới khả năng đánh giá tình hình kinh doanh, tài chính của khách hàng. Ngân hàng cần phải thu thập thông tin cả trong quá khứ lẫn tương lai. Tuy nhiên, khía cạnh tương lai của doanh nghiệp quan trọng so với quá khứ. Những khách hàng truyền thống có mối liên hệ tốt với ngân hàng thì có mức rủi ro thấp hơn. Rủi ro trong cho vay thương mại chủ yếu là do những tác động của thị trường đối với khách hàng (giá hàng bán giảm sút, giá nguyên liệu tăng, thiên tai, cạnh tranh…)
Cho vay đối với người tiêu dùng: Rủi ro liên quan tới thu thập của người vay và những khả năng kiểm soát thông tin về khách hàng. Thông tin thường ít nên ngân hàng khó kiểm soát người vay và khó thu hồi nợ, và công ăn việc làm của khách hàng không ổn định.
Cho vay đối với các trung gian tài chính khác như là các ngân hàng thương mại và các tổ chức phi ngân hàng. Phần lớn các khoản cho vay này là không có tài sản đảm bảo. Vì vậy nếu các tổ chức đi vay bị phá sản thì ngân hàng cho vay sẽ bị mất nên rủi ro liên quan tới vị thế của tổ chức tài chính đi vay.
Cho vay đối với Nhà nước thì độ an toàn cao. Nhưng trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu hoặc khu vực thì các khoản cho vay này cũng bị ảnh hưởng.
1.3.1.3. Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng
Hoạt động tín dụng có liên quan đến nhiều bộ phận trong ngân hàng nên đòi hỏi phải có sự kết hợp và chỉ đạo thông qua chính sách, quy tắc và sự kiểm soát chung.
Chính sách tín dụng có mục tiêu chính là mở rộng tín dụng và hạn chế rủi ro nhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng. Chính sách tín dụng gồm chính sách tài sản đảm bảo, chính sách bảo lãnh, chính sách đồng tài trợ.
Quy trình phân tích tín dụng do Ban giám đốc ngân hàng quyết định được xây dựng chi tiết và quán triệt xuống từng chi nhánh, từng cán bộ. Quy trình phân tích tín dụng thể hiện những nội dung cần phải thực hiện khi cho vay nhằm giảm bớt rủi ro như phân tích tình hình sản xuất kinh doanh , thẩm định dự án, quá khứ của khách hàng, mục đích vay, kiểm soát trong khi cho vay
Bên cạnh chính sách và quy trình nhằm hạn chế rủi ro thì ngân hàng còn xây dựng quy chế kiểm tram phân định trách nhiệm và quyền hạn khen thưởng và kỷ luật
1.3.1.4. Xác định dấu hiệu của các khoản vay có vấn đề, giới hạn các khoản tín dụng và đa dạng hóa
Xác định các khoản cho vay có vấn đề; tỷ trọng các khoản cho vay khác nhau và xây dựng chiến lược đa dạng hóa.
1.3.2. Quản lý nợ quá hạn, nợ khó đòi và các khoản nợ có vấn đề
Rủi ro là điều không thể tránh khỏi của quá trình kinh doanh nên các ngân hàng luôn xây dựng chính sách chung sống với rủi ro: hạn chế rủi ro, chấp nhận rủi ro, khai thác hoặc thanh lý nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ có vấn đề.
Ngân hàng phân loại nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ có vấn đề rồi phân tích nguyên nhân, thực trạng và khả năng giải quyết.
Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính tạm thời song vẫn còn khả năng và ý chí trả nợ thì ngân hàng áp dụng chính sách hỗ trợ như cho vay thêm, gia hạn nợ, giảm lãi
Trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo, chây ì, không có khả năng trả thì ngân hàng áp dụng chính sách thanh lý như bán tài sản thế chấp, phong tỏa tiền gửi trên tài khoản.
Xây dựng quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất. Dựa vào tỷ lệ rủi ro chấp nhận và danh mục các khoản cho vay rủi ro thì ngân hàng xây dựng quỹ dự phòng. Quỹ này không có tác dụng làm giảm rủi ro mà là để chống đỡ cho vốn của chủ khi tổn thất xảy ra.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG HOẠT