KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ – KHỐI LƯỢNG – LỢI NHUẬN

Một phần của tài liệu KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TỎNG hợp (Trang 52 - 55)

Chương 3. MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ – KHỐI LƯỢNG – LỢI NHUẬN

3.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ – KHỐI LƯỢNG – LỢI NHUẬN

Ví dụ: Doanh nghiệp Hoa Mai chỉ sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm duy nhất X. Số liệu chi phí và thu nhập trong một tháng hoạt động bình thường của doanh nghiệp như sau:

Lượng bán 4.000 sản phẩm Biến phí đơn vị 15.000đ/sản phẩm Định phí hoạt động 300.000ngđ/tháng

Đơn giá bán 25.000đ

3.1.1. Số dư đảm phí

Số dư đảm phí là số dư biểu hiện bằng số tuyệt đối tổng số tiền còn lại của doanh thu bán hàng sau khi đã trừ biến phí. Tổng số dư đảm phí được dùng trước hết để bù đắp định phí, phần còn lại sau đó là lãi trong kỳ. Công thức tính:

Số dư đảm phí = Doanh thu – Biến phí

Trong ví dụ trên SDĐP = 100.000ngđ – 60.000ngđ = 40.000ngđ Số dư đảm phí/đơn vị = Đơn giá bán – Biến phí/sản phẩm Trong ví dụ trên SDĐP đơn vị = 25ngđ – 15ngđ = 10ngđ

Khái niệm số dư đảm phí chỉ cho doanh nghiệp thấy rõ khi lượng bán thay đổi sẽ làm cho doanh thu thay đổi, sự thay đổi đó sẽ tác động như thế nào đến lãi thuần. Trong ví dụ trên số dư đảm phí đơn vị là 10ngđ, như vậy cứ mỗi sản phẩm bán thêm doanh nghiệp sẽ có 10ngđ để bù đắp định phí và tạo ra lợi nhuận.

Tỷ lệ số dư đảm phí là chỉ tiêu biểu hiện bằng số tương đối quan hệ tỷ lệ giữa tổng số dư đảm phí với doanh thu hoặc giữa phần đóng góp với đơn giá bán

Trong ví dụ trên tỷ lệ SDĐP = 40.000ngđ : 100.000ngđ = 40%

Tỷ lệ

SDĐP = SDĐP

= SDĐPđơn vị

Doanh thu Giá bán

Trong ví dụ trên tỷ lệ số dư đảm phí là 40%, có nghĩa là trong mỗi một đồng doanh thu có 0,4đ số dư đảm phí.

Nếu doanh nghiệp đã vượt qua điểm hoà vốn, tỷ lệ tăng của doanh thu là tỷ lệ tăng của tổng số dư đảm phí, mức tăng của tổng số dư đảm phí là mức tăng của lợi nhuận trước thuế.

Trong ví dụ trên, nếu doanh thu tăng lên 10%, tương ứng 10.000ngđ, tổng số dư đảm phí sẽ chiếm 4.000ngđ. Nếu doanh nghiệp đã vượt qua điểm hòa vốn, tỷ lệ tăng doanh thu là tỷ lệ tăng của tổng số dư đảm phí. Vậy, tổng số dư đảm phí cũng tăng 10%, tương ứng 4.000ngđ. Đây cũng là mức tăng của lãi thuần, vậy lãi thuần sẽ là 14.000ngđ

3.1.2. Kết cấu chi phí

Kết cấu chi phí là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa định phí và biến phí chiếm trong tổng chi phí kinh doanh.

Mỗi doanh nghiệp xác lập kết cấu chi phí riêng căn cứ trên các đặc điểm kinh doanh và mục tiêu kinh doanh của mình. Không có một mô hình kết cấu chi phí chuẩn để tất cả các doanh nghiệp có thể áp dụng, cũng không có câu trả lời chính xác nào cho câu hỏi kết cấu chi phí như thế nào thì tốt nhất? Tuy vậy, khi dự định xác lập một kết cấu chi phí, doanh nghiệp phải xem xét những yếu tố của doanh thu qua các năm, quan điểm của nhà quản trị đối với rủi ro … Nói chung doanh nghiệp nào có tỷ lệ biến phí cao hơn so với định phí trong tổng chi phí thì tỷ lệ số dư đảm phí sẽ thấp hơn doanh nghiệp có tỷ lệ định phí cao hơn biến phí trong tổng chi phí.

Ví dụ: có số liệu sau đây của 2 doanh nghiệp

Chỉ tiêu Doanh nghiệp A Doanh nghiệp B

Tổng số % Tổng số %

Doanh thu 100.000 100 100.000 100

Biến phí 60.000 60 20.000 20

Tổng số dư đảm phí 40.000 40 80.000 80

Định phí 30.000 70.000

Lãi trước thuế 10.000 10.000

Phân tích ảnh hưởng của kết cấu chi phí đến lợi nhuận ở hai doanh nghiệp A và B, khi doanh thu biến động, được trình bày ở bảng dưới đây

Doanh nghiệp A Biến động của doanh

thu

Số dư đảm phí

Lãi trước thuế

Mới Chênh lệch

Tăng

50% 60.000 10.000 30.000 20.000

20% 48.000 10.000 18.000 8.000

10% 44.000 10.000 14.000 4.000

Giảm

50% 20.000 10.000 - 10.000 -20.000

20% 32.000 10.000 2.000 - 8.000

10% 36.000 10.000 6.000 - 4.000

Doanh nghiệp B

Tăng

50% 120.000 10.000 50.000 40.000

20% 96.000 10.000 26.000 16.000

10% 88.000 10.000 18.000 8.000

Giảm

50% 20.000 10.000 - 10.000 -40.000

20% 32.000 10.000 2.000 - 16.000

10% 36.000 10.000 6.000 - 8.000

Nhận xét: trong phạm vi phù hợp

Doanh thu tăng từ 10% đến 50% thì lãi trước thuế của doanh nghiệp A tăng từ 4.000ngđ đến 20.000ngđ và lãi trước thuế của doanh nghiệp B tăng từ 8.000ngđ đến 40.000ngđ. Như vậy, tốc độ tăng của lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp B cao hơn tốc độ tăng của lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp A.

Doanh thu giảm từ 10% đến 50% thì lãi trước thuế của doanh nghiệp A giảm từ 20.000ngđ đến 4.000ngđ và lãi trước thuế của doanh nghiệp B giảm từ 40.000ngđ đến 8.000ngđ. Như vậy, tốc độ giảm của lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp B nhanh hơn tốc độ giảm của lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp A.

Khi doanh nghiệp có tỷ lệ định phí trong tổng chi phí cao, lãi của doanh nghiệp sẽ rất nhạy cảm với biến động của doanh thu. Chính vì vậy, lãi sẽ tăng nhanh trong những năm kinh doanh thắng lợi và giảm mạnh trong những năm thất bại.

Khi doanh nghiệp có tỷ lệ định phí trong tổng chi phí thấp, lãi của doanh nghiệp sẽ tương đối ổn định hơn khi doanh thu biến động. Tuy nhiên, nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng thắng lợi nhưng doanh nghiệp vẫn duy trì kết cấu chi phí như vậy thì doanh nghiệp sẽ không tận dụng được cơ hội đạt lợi nhuận tối đa.

Tóm lại, kết cấu chi phí như một con dao hai lưỡi, nếu doanh nghiệp biết cách sử dụng, doanh nghiệp có lợi, ngược lại, doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại nặng nề. Định phí nói chung là những khoản chi phí đầu tư lâu dài nhằm tạo nên sức sản xuất cho doanh nghiệp,

nếu doanh nghiệp đầu tư đúng, doanh nghiệp sẽ tạo được sức bật mạnh cho lợi nhuận của doanh nghiệp.

3.1.3. Đòn bẩy kinh doanh

Đối với các nhà vật lý, đòn bẩy dùng để lay chuyển một vật rất lớn với lực tác động nhỏ. Đối với nhà kinh doanh, đòn bẩy kinh doanh là cách mà nhà quản trị sử dụng để đạt được tỷ lệ tăng cao về lợi nhuận với một tỷ lệ tăng nhỏ hơn nhiều về doanh thu.

Đòn bẩy kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng định phí trong tổ chức doanh nghiệp. Do vậy, đòn bẩy kinh doanh sẽ mạnh ở các doanh nghiệp có tỷ lệ định phí cao, và đòn bẩy kinh doanh sẽ yếu ở các doanh nghiệp có tỷ lệ định phí thấp. Điều này cũng có nghĩa nếu doanh nghiệp có tỷ lệ định phí cao, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng rất nhanh khi doanh thu biến động do tác dụng của đòn bẩy kinh doanh. Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh được đo lường qua công thức sau:

Từ công thức trên cho thấy độ lớn của đòn bẩy kinh doanh phụ thuộc vào định phí, định phí càng lớn, hiệu số của mẫu số của công thức càng nhỏ nên giá trị của đòn bẩy kinh doanh càng lớn.

Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh được tính ở một mức doanh thu nhất định. Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh cho biết khi doanh thu biến động 1%, lãi trước thuế sẽ tăng lên bao nhiêu %.

Ví dụ hai doanh nghiệp A và B, đòn bẩy kinh doanh tính như sau:

Độ lớn đòn bẩy kinh doanh của doanh nghiệp A = 40.000ngđ : 10.000ngđ = 4 lần Độ lớn đòn bẩy kinh doanh của doanh nghiệp B = 80.000ngđ : 10.000ngđ = 8 lần Theo kết quả tính được ở trên thì tốc độ tăng của lãi trước thuế của doanh nghiệp A sẽ gấp 4 lần tốc độ tăng của doanh thu và ở doanh nghiệp B tốc độ tăng của lãi trước thuế của doanh nghiệp B sẽ gấp 8 lần tốc độ tăng của doanh thu. Vậy, nếu doanh thu của doanh nghiệp A là 1% thì lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp A sẽ tăng gấp 4 lần, tức tăng 4%

và nếu doanh thu của doanh nghiệp B là 1% thì lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp B sẽ tăng gấp 8 lần, tức tăng 8%.

Nếu doanh thu của doanh nghiệp A và B đều tăng 5% thì lợi nhuận trước thuế dự kiến sẽ tăng

Một phần của tài liệu KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TỎNG hợp (Trang 52 - 55)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(129 trang)
w