Không gian ngh ệ thuật

Một phần của tài liệu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của vũ bằng (Trang 87 - 96)

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI, THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN

2.2. Th ời gian và không gian nghệ thuật

2.2.2. Không gian ngh ệ thuật

Không gian nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với cảm xúc và mang ý nghĩa nhân sinh. Vì gắn liền với cảm xúc và mang ý nghĩa nhân sinh nên không gian nghệ thuật không đơn giản là không gian vật chất với ba chiều mà chủ yếu là chiều không gian tâm tưởng, không gian của cảm xúc, của hồi tưởng, của ước vọng. Nói cách khác đó là hình tượng không gian. "Cấu trúc của không gian tỉnh thần bao giờ cũng được xác định bởi chỗ đứng của tác giả với điểm nhìn, trồng đó điều cần lưu ý là các chiều không gian chỉ là những dữ kiện" [85; 50].

2.2.2.1 Không gian nghệ thuật trong các sáng tác của Vũ Bằng có nhiều điểm khá độc đáo. Ở các tác phẩm như Bát cơm, Cây hoa hiên bên bờ sông Na, Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu... là một không gian có dáng dấp của không gian trong văn học trung cổ. Đó là không gian nhiều tầng, nhiều thứ bậc kiểu Dương Từ Hà Mậu (Nguyễn Đình Chiểu). Trong tác phẩm Bát cơm không có địa ngục để trừng trị những kẻ ác nhưng lại có trần gian với những kiếp người đau khổ vì tên bay đạn lạc; có thiên đường dành cho những oan hồn, nạn nhân của chiến tranh.

Trong Cây hoa hiên bên bờ sông Na có hai cõi dành cho một kiếp người: Cõi sống với bao đau khổ, oan ức; cõi chết để báo ân trả oán, để thực hiện những điều mà ở cõi sống những con người yếu đuối, thấp cổ bé họng không có điều kiện, không được phép thực hiện. Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu là câu chuyện về những oan hồn, là niềm hi vọng, tin tưởng vào cuộc sống hạnh phúc vĩnh viễn ở thế giới bên kia của những con người khốn khổ trong cuộc sống nơi trần

88

thế. Với niềm tin tưởng chắc chắn rằng: "Đời thực rộng nhưng quanh đi quẩn lại vẫn gặp nhau, ở hiền lại gặp lành, ở phức lại gặp đức, hết bĩ cực rồi phải tới thái lai, không ai lại gối đầu tay cho tới sáng" [10; 22], Vũ Bằng đã để cho hai nhân vật Thạch và Mai Chi được ở cạnh nhau, yêu thương nhau mãi mãi ở thế giới bên kia như một lẽ tất nhiên bởi lúc sống, họ yêu thương nhau nhưng lại "không được ở với nhau" [10; 26].

Trên một phương diện nào đó, sự tồn tại của các nhân vật trong Bát cơm, Cây hoa hiên bên bờ sông Na, Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu... .nơi trần thế có nhiều chỗ gặp gỡ với cuộc sống của Vũ Bằng trong thực tế: cùng là nạn nhân của chiến tranh, cùng chịu nhiều thiệt thòi, mất mát... Xây dựng hình tượng không gian với nhiều thứ bậc phải chăng là một cách để Vũ Bằng tự củng cố, tự khẳng định niềm tin vào ngày hội ngộ, niềm tin rồi thần hạnh phúc sẽ mỉm cười với mình?

2.2.2.2. Cuộc sống thời chiến với nhiều tai ương, hiểm họa luôn bổ chụp xuống đầu người, không chừa một ai đã khiến con người luôn sống trong trạng thái thấp thỏm, bất an.

Trong hoàn cảnh ấy, người ta thường có xu hướng kiếm tìm một chỗ nấp, một điểm tựa hòng chở che, bảo vệ mình thoát khỏi sự bủa vây, dồn đuổi của hiểm họa, tai ương. Vũ Bằng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Vì thế, trong các sáng tác của ông, người ta luôn thấy xuất hiện một không gian có tác dụng chở che cho con người. Không gian ấy có khi là mái nhà, có khi là không gian văn hóa Bắc Việt cổ truyền...

Không gian trong các tác phẩm của Vũ Bằng biểu hiện trước hết ở ngôi nhà. Ngôi nhà với mỗi người Việt Nam luôn là một cái gì gần gũi, thiêng liêng. Nhà không chỉ là nơi che mửa, che nắng, nó còn là mái ấm, là nơi chở che cho con người trước những gió mưa, bão tố của cuộc đời. Nhưng nó chỉ thực sự là mái ấm, là nơi chở che khi nó là mái nhà của chính mình, khi ữong mái nhà ấy con người thực sự được hạnh phúc. Trong các sáng tác ngắn của Vũ Bằng, những ngôi nhà thực sự là mái ấm của con người thì hoặc là “bị thiêu ra tro” vì "tàu bay bỏ bom lửa" (Giai đoạn mới) hoặc là thuộc về quá khứ, ở quê nhà (Đất khách). Hiện tại con người vẫn tồn tại trong những căn nhà nhưng không gian này không thể là một nơi ấm áp, đáng tín cậy có thể giúp họ rũ bỏ tất cả mọi ưu tư, phiền muộn. Bà Nhiêu Lương (Giai đoạn mới) của hiện tại cũng sống trong một ngôi: nhà nhưng là ngôi nhà của người khác- nhà ông bà Phán.

Trong ngôi nhà ấy, vào ban ngày, khi thì bà "ở trong bếp" lúc "ngồi một xó"; tối đến, bà "ngủ

89

trong một manh chiếu giải trên hè gạch" [20; 251]. Chỉ bấy nhiêu chi tiết cũng đủ nói lên thân phận cùng cuộc sống tạm bợ, bấp bênh của bà khi hồi cư về thành. Trong Người chứng, ngôi nhà là nơi để ông Phú trốn chạy cuộc sống hiện tại. Một khi đã ở trong tình thế của kẻ chạy trốn, con người khó có thể có được những giây phút thư thái, thanh thản. Ở Đất khách, "gian nhà trống hếch trống hoác" của hiện tại chẳng đủ độ ấm cần có để làm dịu đi nỗi nhớ cồn cào

"cái sân đất rộng thênh thênh ở nhà quê" cùng nhiều cơn bão lòng khác của đôi vợ chồng hồi cư nọ.

Tác phẩm Người Hà Nội nhớ người Hà Nội đề cập đến bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số phận. Ấy vậy mà chỉ có 2 lần tác giả nói đến nhà của hai người: Lần thứ nhất là cái nhà "tan tành" của bà vợ một ông tham công chính. Lần thứ hai là "cái buồng để xe trong căn nhà đổ phố chợ Hôm" [20; 353] đang được người thiếu phụ cô chích xin để ở. Không biết cái buồng

"vừa đủ để một cái xe ô tô bé nhất" [20; 353] ấy có thể mang lại sự bình yên cho con người khốn khổ, đáng thương kia "trong thời tao loạn này" không?

Trong các sáng tác ngắn của Vũ Bằng chỉ có một túp lều khả dĩ đem lại hạnh phúc cho con người. Đó là túp lều của ba cái vong trong truyện ngắn Bát cơm. Tiếc thay, đó là một túp lều ở trên thiên đình và cả ba cái vong tồn tại ương táp lều đó cũng không hoàn toàn hạnh phúc.

Họ luôn thấy "hơi hối rằng mình đã sung sướng quá và ăn nhiều quá" [20; 309]. Rõ ràng, trong cuộc sống thời chiến, hạnh phúc là một cái gì quá xa xỉ, luôn vượt khỏi tầm với của con người.

Hạnh phúc chỉ có thể đạt được ở trong cõi mơ. Và ngay cả khi ấy, nó cũng chưa hẳn đã là hạnh phúc trọn vẹn.

Ở các tác phẩm dài hơi Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam người ta thấy xuất hiện hai ngôi nhà. Đúng hơn là một ngôi nhà và một cái gọi là nhà. Một cái thuộc về quá khứ, còn cái kia là của hiện tại. Tác giả thường xuất phát từ cái gọi là nhà của hiện tại để nói về ngôi nhà trong quá khứ. Ngôi nhà trong quá khứ được tác giả nói kỹ, nói nhiều. Trong Thương nhớ mười hai ngôi nhà ấy được nhắc đến không dưới 20 lần. Đó là ngôi nhà của tuổi thơ có "các con chim bé nhỏ ríu ran tập hót ở trên các ngọn cây chung quanh nhà" [5; 103]. Ở đó, mỗi khi xuân về tết đến, có những chú bé "tranh giành nhau những bức tranh gà lợn đố, có khi đến đánh nhau nhưng rút cuộc thì anh em thoa thuận dán đầy cả lên tưởng để ngắm chung và làm như thế thì nhà tôi đương bình thường, vụt hiện ngay ra một

90

quang cảnh Tết vui tươi khác thường, tưng bừng nhộn nhịp không chịu được" [5; 301-302].

Không chỉ gắn với tháng ngày êm đềm của tuổi thơ vô tư, ngôi nhà trong quá khứ còn gắn liền với những kỉ niệm đẹp đẽ, thơ mộng một thời của nhân vật xưng tôi- người khách xa nhà bên

"người vợ tấm mẳn"- "người đàn bà Bắc" đảm đang, vén khéo.

Vũ Bằng hay nói đến không khí gia đình, đến những sinh hoạt giải trí dân dã trong ngôi nhà đó. Đó "là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường" khiến cho lòng người "ấm lạ, ấm lùng, tuy miệng chẳng nói ra nhưng trong lòng thì cảm như có không biết bao nhiêu là hoa nở, bướm ra ràng mờ hội liên hoan" [5; 20]; đó là "những đêm mùa xuân lành lạnh, gia đình cùng anh em bè bạn đóng cửa lại uống rượu, đánh bài, rồi đến lúc tàn canh thì cùng xúm lại quanh bàn ăn chè lam, uống chè mạn sen" [5; 100].

Nói về ngôi nhà trong quá khứ, về cách nói, Vũ Bằng phần nào chịu ảnh hưởng cách miêu tả của thơ cổ: "trong thơ cổ không miêu tả ngôi nhà, người ta miêu tả ngôi nhà bằng cái của. Vì sao? Bởi chính cái của vừa mở vào thế giới con người vừa mở vào vũ trụ. Cho nên trong thơ cổ của không đóng (để con người giao tiếp với vũ trụ) song cũng là song thưa, để thế giới vào với con người?" [87; 57].

Ngôi nhà của quá khứ trong Thương nhớ mười haicũng thường mở của: "Sáng dậy, nằm dài nhìn qua cửa sổ thấy những vết xanh tươi hiện ở chân trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sửa" [5; 20].

"Không khí mát mẻ thế này, đóng của ở trong nhà uổng quá" [5; 12]...

Con người trong ngôi nhà đó luôn có nhu cầu giao hòa cùng thiên nhiên, luôn muốn tắm mình trong thiên nhiên để tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên, để nhân lên nhiều lần cái hạnh phúc mà họ đang có trong tay. Thế nhưng khi cần họ vẫn đóng của. Họ thường đóng của khi tối đến, đêm về, "các nhà đều đóng cửa" [5; 50], hay vào "những đêm mùa xuân lành lạnh". Hành động đóng của của họ thường là có chủ ý. Nếu trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, con người thường đóng của vì không muốn hòa nhập cùng vũ trụ thì trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, con người đóng của là vì muốn hưởng trọn vẹn cái chiều sâu của hạnh phúc gia đình sau khi đã tìm thấy niềm vui trong sự giao tiếp với vũ trụ, với bạn bè.

91

Trong khi ngôi nhà của quá khứ là nơi chở che, chắp cánh cho những ước mơ của con người bay cao, bay mãi thì cái gọi là nhà ở hiện tại, trong các sáng tác của Vũ Bằng, lại thường kéo người ta xuống, gò người ta vào trong cái khuôn của những cảm giác trống rỗng mênh mông hoặc bức bối khó chịu. Chỉ có 2 lần tác giả dùng từ nhà để chỉ cái không gian nhỏ hẹp của hiện tại. Lần thứ nhất là nhà xi-nê, cái nhà chung, có tính chất công cộng. Con người đến đó là để tìm những giây phút thư giãn, thoải mái nhưng không được bởi "nhà xi-nê thì chật hẹp" lại "được" đặt trong một khung cảnh lớn là "bốn mùa nắng chói". Nó chỉ làm cho con người càng da diết nhớ cái "tháng ba đầm ấm ngày xưa" [5; 69-70]. Lần thứ hai là cái nhà- nơi che nắng che mưa cho con người ở hiện tại. Cái nhà ấy, khi "mở của rộng ra (...) thấy tạt lại một mùi gì nhạt nhẽo: có lẽ đổ là mùi chăn hôi chiếu móc" [5; 266]. Con người trong nhà đó chán chường, mệt mỏi, cô đơn và trống rỗng: "anh không buồn đóng của lại nữa, gục đầu xuống cởi giày nhưng để nguyên quần áo lăn ra giường và lấy nửa cái chăn đắp vào ngực cho đỡ lạnh" [5; 266].

Nếu ngôi nhà trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du "hiện hữu giữa trần gian như cái lồng chật hẹp tồi tàn kiềm hãm những đôi cánh ước mơ bay bổng" [102; 15] thì trái lại, ngôi nhà ương Thương nhớ mười hai- đặc biệt là ngôi nhà của quá khứ thường tạo cho con người cảm giác ấm áp, hạnh phúc. Có thể nói, ngôi nhà của quá khứ trong các sáng tác của Vũ Bằng chính là trạm dừng chân để con người có thể tương thông với đất trời và đất ười, qua ngôi nhà mà dang rộng vòng chở che, giúp con người nhân lên nhiều lần cái hạnh phúc mà họ đang có trong tay. Đây là một nét rất riêng của văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng.

Trong các sáng tác của Vũ Bằng còn có một không gian đặc biệt nữa: Không gian văn hóa Bắc Bộ. Nó đặc biệt vì nó là không gian tâm tưởng, không gian hoàn toàn thuộc về cõi nhớ. Nếu ngôi nhà là không gian hẹp gắn với mỗi gia đình, với cuộc đời của những con người có quan hệ huyết thống thì không gian văn hóa Bắc Bộ là một không gian rộng lớn, liên quan đến nhiều cuộc đời, đến những lễ hội, lễ Tết, đến nền văn hóa ẩm thực truyền thống.

Trước hết, đó là một không gian trải dài theo mùa tháng. Là một người mà cái hồn văn hóa Bắc Việt đã hóa thành máu chạy khắp cơ thể, hơn ai hết, Vũ Bằng rất nhạy cảm trước thiên nhiên đất trời xứ Bắc. Ông như nghe thấy rất rõ nhịp bước của thời gian qua từng thay đổi rất nhỏ của không khí, cảnh vật từng mùa, từng tháng. Ông đã viết về 12 tháng trong năm, đặc biệt

92

về cái lạnh, cái rét ngọt ngào, tình tứ của xứ Bắc với tất cả sự say mê. Viết về thiên nhiên xứ Bắc, Vũ Bằng đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của thi pháp thơ Đường, của thơ ca cổ điển Việt Nam.

Không gian môi trường sinh thái Bắc Việt trong các sáng tác của Vũ Bằng thường cao rộng, chan hòa ánh sáng. Ở đó, "con người ít bị vướng vào các quan hệ thường nhật mà luôn chan hòa vào không gian, lẫn mình vào không gian có nhiều khoảng hư không ấy" [20; 81].

Với người Việt Nam nói chung, với người xứ Bắc nói riêng, lễ Tết' và lễ hội là cái gì đó rất thiêng liêng và quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân cũng như đời sống của cả cộng đồng. Những nghi lễ và phong tục trong lễ Tết "thể hiện rõ quan niệm về sự hòa đồng giữa con người với thiên nhiên, về mối quan hệ mật thiết giữa Trời- Đấu Người, về mối quan hệ gắn bó giữa sự vận hành của vũ trụ với sự vận hành của xã hội" [24; 175]. Trong Thương nhớ mười hai Vũ Bằng có nhắc đến những ngày hội: hội hát trống quân trong đêm trung thu ở Vĩnh Phúc, các đám hội làng ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ ương tháng giêng... Ngòi bút của ông tỏ ra đặc biệt say sưa khi nói về lễ hội của đồng bào các dân tộc vùng cao. Dưới ngòi bút của ông, các lễ hội vùng cao được nhìn nhận, khai thác ở vẻ đẹp trẻ trung, tình tứ của nó.

Viết Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội là một cách để Vũ Bằng giãi bầy những uẩn ức sâu kín của cõi lòng. Như thế cũng có nghĩa là ông cầm bút dưới sự điều khiển của tâm trạng, cảm xúc hoàn toàn có tính cá nhân. Cho nên, bằng một cách tự nhiên nhất, ngòi bút của ông giành sự ưu tiên cho lễ Tết. Dưới ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng, không khi lễ Tết đã đọng lại Mong từng trang văn. Đó là không khí bận rộn chuẩn bị đón Tết, là cái háo hức của trẻ thơ, là phút thiêng liêng khi đón giao thừa với bao điều kiêng kỵ ai cũng đã thuộc lòng: "không được quét nhà, vì sợ đuổi thần tài ra cửa, không được đánh vỡ chén bát để tránh đổ vỡ suốt năm, không được khâu vá vì kim chỉ tượng trưng cho công việc làm ăn vất vả" [5; 307]...

Không gian lễ Tết trong các sáng tác của Vũ Bằng là không gian nhỏ nhưng ấm áp bởi lễ Tết bao hàm trong nó bao ý nghĩa thiêng liếng. Con người Việt Nam, trong năm, có thể đi ngược về xuôi, tất tả kiếm ăn, kiếm sống nhưng Tết đến, cách nào cũng phải tìm đường về quê. " quê ăn Tết, đối với tất cả người Việt Nam tức là trở về nguồn cội để cảm thông với ông bà tổ tiên, với anh em họ hàng, với đồng bào thôn xóm; về quê ăn Tết tức là để tỏ cái tinh thần lạc quan ra chung quanh mình, tỏ tình thương yêu cởi mở và biểu 'dương những tinh thần, những kỷ niệm thắm thiết vì lâu ngày mà quên mất đi" [5; 276].

93

Là người hiểu rất rõ ý nghĩa của việc về quê ăn Tết, oái ăm thay, có đến ba mươi năm liền Vũ Bằng không được về quê ăn Tết và cũng chẳng bao giờ được về quê ăn Tết nữa. Ông chỉ còn biết gửi gắm nỗi nhớ về lễ Tết qua những trang văn. Nhớ về lễ Tết, với tất cả người Việt Nam, trong đó có Vũ Bằng, là nhớ về gia đình với những người thân yêu: ông bà, cha mẹ, vợ con..: Nỗi nhớ Tết trong Vũ Bằng luôn gắn liền với hình ảnh người vợ. Chỉ riêng trong phần Tháng Chạp, nhớ ơi chợ Tết hình ảnh người vợ được nhắc đến 45 lần trên 36 trang sách với tất cả sự bận rộn, lo toan của người đàn bà đảm đang, vén khéo. Như vậy, với Vũ Bằng, nhớ Tết đồng nghĩa với nhớ về người vợ; mà nhớ về người vợ là nhớ đến gia đình với không khí đầm ấm của nó.-Thành ra, ở Vũ Bằng, nỗi nhớ Tết và nhổ nhà đã hòa làm một. Nói về Tết một cách tường tận, giàu cảm xúc với tất cả tính chất linh thiêng của nó; viết về người vợ như viết về một người tình và hơn cả người tình, trong văn chương Việt Nam, hiện tương ấy không phải là phổ biến. Đây cũng là một nét riêng trong phong cách sáng tác của Vũ Bằng.

Hướng về không gian văn hóa Bắc Việt, Vũ Bằng không chỉ hướng về thiên nhiên hòa thuận, diễm tình giống như một mĩ nhân; hướng về những lễ hội, lễ Tết gắn với các phong tục, tập quán cùng các trò giải trí dân gian, trò diễn dân gian mà ông còn hướng tới nền văn hóa ẩm thực Bắc Bộ. Vũ Bằng viết say sưa, viết như làm thơ về nền văn hóa ẩm thực Bắc Việt với các món ăn dân dã. Vũ Bằng viết hay, viết thành công về những miếng ngon Hà Nội vì nó hợp với

"khẩu cái" của ông; và sâu xa hơn, có lẽ vì nó được làm ra từ những sản vật quê hương xứ Bắc- nơi ông sinh ra, lớn lên, gắn bó cả bốn chục năm trời; nó là những sản phẩm được làm ra từ những đôi tay khéo léo của những "người đàn bà Bắc", của "người vợ tấm mẳn" chịu thương, chịu khó của ông. Nhớ những món ăn dân dã, quen thuộc với những người đi xa là nhớ cả một nếp sống đã hằn sâu troốg tim óc. Với Vũ Bằng không chỉ có thế, nhớ những miếng ngon Hà Nội là ông nhớ đến mái ấm gia đình, nhớ đến người vợ Bắc mà ông hết lòng yêu thương và không nguôi nhung nhớ trong những năm xa cách. Có thể nói, trong nỗi nhớ của Vũ Bằng, tình yêu quê hương đất nước, yêu con cá lá rau của quê nhà đã hòa trong tình yếu gia đình, vợ con.

Đây cũng là dấu ấn Á Đông trong tâm thức Vũ Bằng.

Trong các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng còn xuất hiện một không gian khác:

không gian mồ mả, bãi tha ma. Đây là loại không gian dành cho người chết. Trong truyện ngắn Đất khách, hình tượng không gian này lặp lại đến 14 lần như một dự cảm, một nỗi ám ảnh về một tương lai không mấy sáng sủa dành cho những người hồi cư. ở truyện Người làm mả vợ,

Một phần của tài liệu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của vũ bằng (Trang 87 - 96)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(136 trang)