CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.2. Khái quát về thương mại hóa kết quả nghiên cứu
1.2.3. Các yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Trên thực tế, để đưa kết quả của nghiên cứu vào thực tiễn, tức thương mại hóa được kết quả, sản phẩm đó, tồn tại một khoảng cách gồm nhiều yếu tố tác động vào hoạt động thương mại hóa này. Theo Quỹ nghiên cứu của Trường Đại học
Wisconsin, Milwaukee, Hoa Kỳ, cần có những sự hỗ trợ là chất xúc tác để điền vào khoảng cách này, ví dụ như các đơn vị hợp tác nghiên cứu, việc quản lý TSTT, các quỹ hỗ trợ, sự hình thành doanh nghiệp spin-offs/ start-ups, tìm kiếm các đối tác để hợp tác, v.v. Có thể nói đây là một trong những yếu tố tác động và thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN.
Hình 1.1. Một số yếu tố tác động và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu Nguồn: UWM Research Foundation (University of Wisconsin, Milwaukee)
Tài chính là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo Norris & Vaizey (1973), kinh phí cho giai đoạn nghiên cứu chỉ chiếm khoảng 5 – 10%, giai đoạn phát triển và hoàn thiện công nghệ chiếm 10 – 20% và giai đoạn thương mại hóa chiếm từ 70 – 80% tổng chi phí từ nghiên cứu đến thương mại hóa thành công kết quả nghiên cứu. Các Viện nghiên cứu thường chỉ được cấp kinh phí để thực hiện ở bước nghiên cứu, chỉ một số kết quả nghiên cứu sau đó được cấp kinh phí để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ, lập dự án sản xuất thử nghiệm. Nguyên nhân bởi nguồn kinh phí hạn hẹp từ NSNN và cơ chế phân bổ kinh phí còn dàn trải từ các Bộ, ngành, cơ quan, chưa có sự tập trung đầu tư hiệu quả.
Ngoài yếu tố tài chính, còn nhiều yếu tố tác động đến hoạt động này, có thể kể đến các yếu tố chính như: các cán bộ nghiên cứu; các tổ chức KH&CN; doanh nghiệp mua kết quả nghiên cứu, công nghệ; các định chế trung gian, thị trường công nghệ; các cơ chế, chính sách của Nhà nước.
Thứ nhất, về yếu tố các cán bộ nghiên cứu, cần có tinh thần kinh thương của các cán bộ này. Trên thực tế, đa số các kết quả nghiên cứu ban đầu chưa thể sẵn sàng ngay cho việc thương mại hóa, do đó nó đòi hỏi sự tiếp tục theo đuổi nghiên
cứu của các nhà khoa học để có thể đưa kết quả nghiên cứu đó vào sản xuất, kinh doanh (Hughes et al., 2011). Nếu các cán bộ nghiên cứu này không có tinh thần kinh thương, chỉ đơn thuần nghiên cứu thì rất khó để đưa một kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn, bởi khi kết thúc một đề tài họ thường chuyển sang thực hiện đề tài khác chứ không tiếp tục nghiên cứu, triển khai để đưa ra sản phẩm cuối cùng.
Thứ hai, đối với các tổ chức KH&CN, sự tác động đến hoạt động thương mại hóa phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực nghiên cứu của tổ chức KH&CN đó. Kết quả nghiên cứu của một tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản thuần túy thì sẽ khó (hoặc không thể) đưa vào thương mại hóa so với kết quả ở một tổ chức KH&CN khác nghiên cứu định hướng ứng dụng. Ngoài ra, vai trò lãnh đạo của tổ chức KH&CN cũng đóng vai trò quan trọng tác động đến hoạt động thương mại hóa. Bởi đường lối phát triển và những quyết định của người lãnh đạo sẽ ảnh hưởng đến sự hoạt động của tổ chức là điều tất yếu. Đồng thời, những chính sách của tổ chức KH&CN sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại hóa nếu tổ chức KH&CN đó quan tâm và chú trọng đến hoạt động này.
Thứ ba, về yếu tố các doanh nghiệp và thị trường công nghệ trong nước, gần 90% các doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp ở quy mô vừa và nhỏ (có vốn dưới 10 tỷ đồng). Đối với các doanh nghiệp lớn, mô hình tập đoàn thì chủ yếu là doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, hoặc tập đoàn kinh tế nhà nước. Các doanh nghiệp lớn có kinh phí đầu tư chi cho hoạt động R&D riêng chủ yếu sẽ ứng dụng các kết quả R&D của họ, nghiên cứu theo yêu cầu của doanh nghiệp. Còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có kinh phí để đầu tư riêng cho hoạt động R&D, lại thường có xu hướng mua/ nhập công nghệ, thiết bị từ nước ngoài. Mặc dù chi phí ban đầu bỏ ra có thể lớn, nhưng được yên tâm, và đảm bảo về mặt chất lượng. Các doanh nghiệp này thường e dè trước kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN trong nước. Nguyên nhân bởi các kết quả nghiên cứu này chưa thực sự sẵn sàng ứng dụng hoặc đưa ngay vào sản xuất, kinh doanh được, mà cần trải qua quá trình đầu tư kinh phí để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình, công nghệ và giai đoạn thương mại hóa. Kinh phí cho hoạt động này không hề nhỏ, mà rủi ro cao. Do đó, các kết quả nghiên cứu của các tổ chức KH&CN chưa hấp dẫn các doanh
nghiệp trong nước. Hay nói cách khác, thị trường công nghệ chưa phát triển bởi cả hai phía cung và cầu chưa tìm được tiếng nói chung.
Thứ tư, yếu tố các định chế trung gian cũng góp phần tác động đến hoạt động thương mại hóa kết quả R&D. Có thể nói, thương mại hóa kết quả R&D là một hoạt động thương mại hóa đặc thù so với các hoạt động thương mại hóa khác. Đặc thù thứ nhất ở đây là sự bất bình đẳng trong thông tin hai chiều, giữa bên bán và bên mua. Một mặt, các nhà khoa học, tổ chức KH&CN không biết nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp, hay nói cách khác là thị trường là gì. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng không có kênh thông tin để biết các nhà khoa học đã nghiên cứu ra cái gì? Do đó, việc hình thành các tổ chức dịch vụ CGCN phục vụ cho hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy hoạt động này phát triển. Đặc thù thứ hai là sự khó khăn trong việc đánh giá và định giá công nghệ. Đối với các hàng hóa ở thị trường khác ví dụ như thị trường bất động sản, một bên muốn mua nhà có thể chưa biết chính xác giá nhà đó là bao nhiêu, nhưng có thể tham khảo giá các nhà bên cạnh, xung quanh, cùng khu vực để có cơ sở làm tham chiếu, bởi giá cả thị trường bất động sản là công khai, bên mua hoàn toàn có thể thăm dò, tham khảo. Tuy nhiên, đối với một kết quả nghiên cứu thì bên mua không thể áp dụng biện pháp tương tự như vậy. Do đó, việc hình thành và phát triển các tổ chức đánh giá, và định giá công nghệ là hoàn toàn cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Thứ năm, một yếu tố quan trọng khác tác động đến thương mại hóa kết quả R&D là cơ chế, chính sách của Nhà nước, hay nói cách khác chính là vai trò của Nhà nước trong hoạt động này. Từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển, việc can thiệp của Nhà nước vào hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu là việc cần thiết. Ví dụ, muốn hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu phát triển nhưng Nhà nước không có Luật SHTT để bảo vệ quyền sở hữu cho tác giả, chủ sở hữu (hoặc có nhưng không có tính thực thi cao), không có những chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho các doanh nghiệp KH&CN, cho các tổ chức KH&CN đầu tư nghiên cứu, không tạo điều kiện cho các cầu nối là định chế trung gian hoạt động thì tự bản thân hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu không thể phát triển được. Do đó, Nhà nước đóng vai trò tiên quyết trong việc định hướng và hoạch định chính sách,
cần đưa ra những cơ chế thích hợp nhằm khuyến khích thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả R&D.