Thực trạng phát triển chợ

Một phần của tài liệu Phát triển hạ tầng thương mại việt nam thực trạng và một số đề xuất chính sách luận văn ths (Trang 26 - 30)

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI VÀ CHÍNH

2.1. Thực trạng phát triển hạ tầng thương mại

2.1.1. Thực trạng phát triển chợ

2.1.1.1. Tình hình phát triển chợ

a. Thực trạng phát triển mạng lưới chợ

Theo số liệu điều tra của Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2013 trên cả nước có 8.495 chợ và được phân bố theo các vùng kinh tế trên cả nước. [Báo cáo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố]

Sau khi Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 1 năm 2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ (Nghị định 02) và Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CPngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ được ban hành, việc phát triển các chợ trong những năm qua đã đáp ứng được nhu cầu lưu thông hàng hóa trong nước. Số lượng các chợ được nâng cấp cải tạo và xây mới trong những năm gần đây đã tăng lên nhanh chóng, nhưng chủ yếu phát triển ở các khu kinh tế, thành thị, chỉ có rất ít chợ nhỏ được mở ở các khu vực miền núi.

- Số dân trên chợ

Tính đến năm 2013, theo Tổng Cục Thống kê dân số cả nước 90.000.600 người với 8.495 chợ, bình quân một chợ phục vụ trên 10.000 người/chợ.

- Mạng lưới chợ theo phường, xã và thị trấn

Với tổng số 8.495 chợ hiện có trên 11.112 phường, xã và thị trấn, số chợ trên xã phường và thị trấn bình quân trên cả nước 0,76 chợ/phường, xã và thị trấn.

Chợ ở nước ta hiện nay phân bố không đồng đều, mật độ chợ tính theo các đơn vị hành chính giữa các Vùng kinh tế không đồng đều: vùng có mật độ chợ bình quân tính theo đơn vị hành chính thấp nhất là các vùng miền núi Tây Nguyên và Tây Bắc. Vùng có mật độ cao nhất là các vùng đồng bằng.

- Về bán kính và diện tích phục vụ của các chợ

Trên địa bàn cả nước, bình quân cứ khoảng 39 km2 lại có một chợ hay bán kính phục vụ trung bình của một chợ là 3,5 km

21

b. Thực trạng phát triển quy mô và cơ sở vật chất chợ - Sự phát triển về quy mô của chợ

Trong tổng số 8.495 chợ của cả nước, có 237 chợ hạng I chiếm 2,8%, 932 chợ hạng II chiếm 11,1%, còn lại chủ yếu chợ hạng III có 7322 chợ chiếm 86%. Như vậy, ở nước ta hiện nay, theo quy chế phân hạng chợ của Nghị Định 02 thì chủ yếu là chợ hạng III (chợ nhỏ dưới 200 điểm bán hàng).

Theo báo cáo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố cho thấy chợ hạng I và chợ hạng II hầu như chủ yếu tập trung tại các trung tâm tỉnh, thành phố và thị trấn của các huyện. Trong khi đó, các chợ hạng III tập trung chủ yếu tại các xã trong các vùng kinh tế. [Nguồn Vụ Thị trường trong nước năm 2013]

Diện tích bình quân của chợ

Diện tích chợ của nước ta khá đa dạng, phụ thuộc phần lớn vào điều kiện mặt bằng cụ thể của từng chợ. Cùng một loại hình và qui mô, có chợ chỉ khoảng vài trăm mét, có chợ hàng nghìn hoặc hơn chục nghìn m2 như chợ Đông Ba của tỉnh Thừa Thiên- Huế 13.250 m2

- Cơ cấu diện tích của các chợ

Theo số liệu điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường về diện tích đất dành cho xây dựng chợ tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước diện tích đất chợ ở khu vực nông thôn chiếm 73,9%, khu vực thành thị chiếm 26,1% tổng diện tích đất chợ cả nước. Có 37% xã, phường dành từ 2000-5000 m2 diện tích đất cho xây dựng chợ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số xã, phường được thống kê (Nguồn Tổng Cục thống kê năm 2013).

- Sự phát triển về cơ sở vật chất của các chợ

Hiện nay, trên địa bàn cả nước có 932 chợ hay 11% số chợ được xây dựng kiên cố, 3.736 chợ hay 44% số chợ được xây dựng bán kiến cố và 3.905 chợ hay 46% số chợ vẫn là lán tạm hoặc chưa được xây dựng. Như vậy, tình hình xây dựng cơ sở vật chất chợ trên địa bàn cả nước hiện nay chưa được quan tâm đúng mức. [Báo cáo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố]

c. Thực trạng hoạt động kinh doanh của các chợ - Số lượng hộ tham gia kinh doanh trên chợ

Theo số liệu điều tra hiện nay cả nước có khoảng 1.450. 324 hộ kinh doanh cố định tại các chợ, ngoài ra còn có rất nhiều hộ kinh doanh không thường xuyên trên chợ không thể thống kê hết. Mức trung bình của cả nước

22

là 112 hộ kinh doanh cố định trên một chợ và có sự chênh lệch lớn về chỉ tiêu này giữa các vùng [Tổng Cục thống kê năm 2012].

- Lực lượng tham gia trên chợ

Các thành phần tham gia kinh doanh trên chợ: bao gồm Thương nghiệp Nhà nước, Thương nghiệp Hợp Tác Xã, Thương nghiệp tư nhân và người sản xuất trực tiếp

- Doanh thu trung bình của các chợ

Theo số liệu điều tra ước lượng của Ngân hàng phát Triển Châu Á (ADB) tổng doanh thu bình quân một ngày của một chợ trên cả nước vào khoảng 135,355 triệu đồng/ngày. Trung bình một năm nếu tính cả 360 ngày, thì doanh thu bình quân của một chợ vào khoảng 48 tỉ đồng/năm.

2.1.1.2. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn đối với phát triển mạng lưới chợ

a. Những thuận lợi

- Vị trí địa lý thuận lợi giúp Việt Nam có nhiều tiềm năng trong việc mở cửa, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng là một yếu tố quan trọng giúp Việt Nam thu hút đầu tư để phát triển sản xuất hàng hóa cũng như phát triển lĩnh vực thương mại và dịch vụ.

- Nền kinh tế phát triển khá và ổn định tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất. Năng lực sản xuất ngày càng được cải thiện, số lượng mặt hàng ngày càng đa dạng, đảm bảo nguồn cung cho mạng lưới bán lẻ trong nước nói chung và mạng lưới chợ nói riêng. Mạng lưới chợ tiếp tục là kênh phân phối chủ yếu và phù hợp nhất đối với nhiều loại hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu.

- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ khiến nhu cầu về các nguồn nguyên liệu là các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng tăng và là động lực thúc đẩy hoạt động khai thác, thu gom các sản phẩm và làm gia tăng khối lượng hàng hóa lưu chuyển qua mạng lưới chợ. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch cũng có ảnh hưởng tích cực đến mạng lưới chợ truyền thống.

Các phiên chợ vùng cao, chợ nổi, chợ đêm… đang là các điểm thăm quan, mua sắm hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

- Dân số đông, cơ cấu dân số trẻ, thu nhập và mức sống dân cư từng bước được cải thiện là những yếu tố giúp Việt Nam sở hữu một thị trường bán lẻ rộng lớn và tiềm năng, nhờ đó thu hút được nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư và phát triển. Mặt khác, dân số trong độ tuổi lao động có xu

23

hướng tăng giúp bổ sung một lực lượng lao động tương đối dồi dào vào lĩnh vực thương mại nói chung và kinh doanh tại các chợ nói riêng.

Bên cạnh đó, phần lớn dân cư vẫn tập trung tại khu vực nông thôn và có thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, mạng lưới chợ vẫn là loại hình bán lẻ phổ biến và chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa, tập quán của dân cư địa phương. Do đó, tập khách hàng tiềm năng của mạng lưới chợ truyền thống là rất lớn.

b. Những khó khăn

- Đặc điểm lãnh thổ Việt Nam có hình dạng dài và hẹp, các tuyến giao thông, đặc biệt là tuyến Bắc Nam dễ bị chia cắt do thiên tai, bão lụt, gây trở ngại phát triển giao thông và thương mại. Địa hình đất nước với 3/4 đồi núi, dân cư đông nên thiếu quỹ đất dành cho phát triển hạ tầng nói chung, hạ tầng chợ nói riêng, đặc biệt là khu vực miền núi hay khu vực đồng bằng tập trung đông dân cư.

- Kinh tế phát triển khiến tốc độ đô thị hóa được đẩy mạnh, thu nhập người dân được cải thiện và dân trí ngày càng phát triển… Trình độ tiêu dùng của phần lớn dân cư tăng lên kèm theo những yêu cầu chính đáng về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, chất lượng hàng hóa và dịch vụ nên mạng lưới chợ sẽ bị cạnh tranh mạnh mẽ của các loại hình hạ tầng thương mại khác.

- Tác động của tăng trưởng kinh tế lên mức sống cũng như thói quen tiêu dùng của người dân là không đồng đều giữa các vùng, địa phương trên cả nước. Tại một số địa phương, người dân vẫn còn duy trì cuộc sống tự cấp, tự túc và chưa có thói quen đến chợ khiến lưu lượng người và hàng hóa qua chợ thấp và không thu hút được người kinh doanh bỏ vốn đầu tư phát triển.

- Mật độ dân số tại Việt Nam khá cao nhưng phân bố không đồng đều, gây khó khăn trong việc quy hoạch và phân bố hệ thống chợ một cách phù hợp. Khu vực nông thôn miến núi dân cư phân bố không tập trung, quỹ mua dành cho tiêu dùng hàng ngày của người dân đã thấp lại phân tán, gây khó khăn cho việc phát triển mạng lưới chợ. Ngược lại, các khu đô thị lớn lại tập trung rất đông dân cư, gây áp lực lớn lên cơ sở hạ tầng thương mại trong khi quỹ đất dành cho mặt bằng kinh doanh bán lẻ lại rất hạn chế khiến việc xây dựng thêm chợ gặp nhiều khó khăn.

- Việt Nam được đánh giá là một thị trường bán lẻ tiềm năng nhưng phần lớn các nhà đầu tư trong và ngoài nước vẫn chỉ chỉ chú trọng phát triển các loại hình bán lẻ hiện đại, tập trung tại các đô thị lớn. Việc huy động nguồn lực xã hội để phát triển mạng lưới chợ là khá khó khăn, nhất là trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp.

24

Một phần của tài liệu Phát triển hạ tầng thương mại việt nam thực trạng và một số đề xuất chính sách luận văn ths (Trang 26 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)