1. Kết luận
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu và giả thuyết khoa học của dé tai, cùng với việc nghiên cứu vẻ lí luận, thiết kế và áp dụng tiến trình day học theo mô hình day học 5E và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm, người nghiên cứu đưa ra các kết quả nghiên cứu mà đẻ tài đạt được như sau:
Thứ nhất. dé tài đã xác định hệ thông cơ sở lí luận vững chắc bao gồm mô hình dạy học SE, năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vật lí vào thực tiễn, đánh giá năng lực HS trong môn Vật lí. Trong đó, tác giả đã chỉ ra được sự pha hợp vẻ đặc điểm
của môn Vật li trong CT GDPT môn Vật lí 2018 trong sự phù hợp với việc thiết kế và tô chức đạy học Vật lí theo mô hình dạy học 5E.
Thứ hai, tiền hành tìm hiểu quan điểm và ý kiến của GV cấp THPT tại các trường THPT trong việc vận đụng mô hình đạy học 5E ở môn Vật lí cắp THPT. Kết quả khảo sát cho thấy một phan lớn GVTH vẫn chưa tiếp cận với mô hình dạy học SE. Đối với các GV đã tiếp cận, họ có những đánh giá tích cực trong việc vận dụng mô hình này trong giảng dạy môn Vật lí theo điều kiện thực tiền của giáo dục Việt Nam cũng như
việc hình thành và phát triên năng lực được bô sung trong CT GDPT môn Vật lí 2018 đó chính là năng lực vận dụng kiên thức, ki năng vật lí vào thực tiễn. Việc thăm dỏ ý
kiến và quan điểm của GV cho thấy việc triển khai mô hình dạy học 5E trong thực
tiễn giáo dục Việt Nam là cần thiết. Đề GV cấp THPT có thé vận dụng tốt mô hình nay trong dạy học, cần có những tải liệu hướng dẫn và những kế hoạch bài dạy cụ thé như một nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy hỗ trợ.
Thứ ba, áp dung mô hình day học SE đề thiết kế được 02 kế hoạch bài dạy thuộc mạch nội dung “Công và năng lượng" trong CT GDPT môn Vật lí 2018 nhằm bồi dưỡng năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vật lí vào thực tiễn cho HS THPT đáp
ứng mục tiêu CT GDPT môn Vật lí 2018.
Thứ tư, thực nghiệm thành công 02 kế hoạch bài day theo mô hình day học SE va kết qua cho thay mô hình day học nay sẽ phat trién được nang lực vận dung kiến thức.
kĩ năng vật lí vào thực tiễn cho HS THPT. Trong quá trình triển khai thực nghiệm, người nghiên cứu nhận thấy HS thực sự tích cực, yêu thích và hứng thú khi học tap
Vật lí theo mô hình đạy học này, Điều đó chứng tỏ việc vận dụng mô hình này ở cấp THPT có tính khả thi va đạt hiệu qua cao, phi hợp với thực tiễn dạy học ở trong nước.
Thứ năm, với những kết quả thu được đề tài trở thành một tài liệu tham khảo có
giá trị dành cho sinh viên các khoa Sư phạm Vật lí ở các trường Sư phạm va GV
94
THPT trong việc thực hiện CT GDPT 2018 nói chung và CT GDPT môn Vật lí 2018
nói riêng với mục tiêu phát triển năng lực người học.
2. Kiến nghị
Dé việc day học Vật lí theo mô hình day học SE ở nha trường THPT đạt hiệu qua cao đáp ứng được mục tiêu, người nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị như sau:
2.1. Đối với giảng viên các trường Đại học Sư phạm
Các trường đại học có thê đưa thêm nội dung dạy học môn Vật lí theo định hướng tìm tòi = khám pha và giới thiệu mô hình dạy học SE trong các học phần Lí luận và Phương pháp dạy học môn Vật lí nhằm giúp sinh viên khoa Sư phạm Vật lí có nhiều lựa chọn đa dạng hơn trong thiết kế và tô chức hoạt động dạy học môn Vật lí nhằm hình thành va phát triển năng lực đặc biệt lả năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vật lí vào thực tiễn cho HS THPT sau nay. Trong đó, chú trọng đến khâu thực hành và
vận dụng của sinh viên. Xây dựng thêm những tài liệu hướng dẫn đạy học môn Vật
lí theo định hướng tìm tòi — khám pha nói chung, theo mô hình dạy học SE nói riêng
dé GV THPT có thêm một phương tiện hỗ trợ trong Việc trién khai day học Vật li
theo định hướng của CT GDPT 2018.
2.2. Doi với các cấp quản lí giáo duc các trường THPT trên địa bàn Thành phố
Vũng Tàu.
Đề có thê áp dụng hiệu quả mô hình này trong giảng dạy, các nhà quản lí giáo dục can khuyến khích GV linh hoạt hơn trong việc thực hiện CT giáo dục. Thay vì thực hiện theo kiêu dạy học tiết bai như hiện nay, nhà trường có thé khuyến khích GV va tô chuyên môn sắp xếp, điều chỉnh và thống nhất nội dung đạy học theo từng chủ đề một cách logic, liền mạch hơn và linh hoạt hon, đặc biệt là ở một số hoạt động doi hỏi cần nhiêu thời gian hơn dé HS quan sát, ghi chép, thực hành, điều tra (như sự rơi tự do hay thé năng phụ thuộc vào yếu tố nào, vì sao lại có công thức tính thé năng
W, = mgh) sao cho việc tô chức thuận tiện nhưng van đạt hiệu quả cao.
2.3. Đối với đội ngũ giáo viên trung học phổ thông
GV có thê chủ động, tích cực tiếp cận, tìm hiểu và tự bồi đưỡng năng lực thiết kế và tô chức dạy học Vật lí băng mô hình day học 5E; tham gia xây dựng, tô chức day
học thực tién và chia sẻ kinh nghiệm triển khai của bản thân trong các giờ sinh hoạt chuyên môn. Phương tiện day học là thành tố không thẻ thiếu trong quá trình day học Vật lí theo mô hình dạy học SE. Vi thé, GV có thé tận dụng triệt dé những vat dụng có sẵn trong bộ đồ dung day học của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc những dụng cụ theo từng bộ sách giáo khoa mà nhà trường lựa chọn. Bên cạnh do, dựa trên sự thông nhất kế hoạch giáo dục chung của Tổ chuyên môn, các thành viên có thé phân công
nhau soạn thảo kế hoạch bai day, thiét ké va suu tam phương tiện dạy học... nhằm
95
xây dựng kho phương tiện dạy học chung cho tô để mỗi giờ dạy hiệu quả và sinh động hơn và không còn mat nhiều thời gian cho việc chuẩn bị phương tiện day học.
GV cần áp dụng triệt dé thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong đánh giá HS THPT theo hướng phát huy năng lực cá nhân thông qua những nhận xét. Đề kiểm tra có thê thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực, không đòi hỏi HS phải trình bày quá nhiều kiến thức khoa học. Bằng cách thức đó, tiết học sẽ trở nên sinh động, vui tươi va nhẹ nhàng hơn vì HS thực sự được học, được trải nghiệm, được bay to quan điểm cá nhân của mình và GV không cần tập trung truyền đạt quá nhiều kiến thức trong
lớp.
Hiện nay, CT GDPT mới theo định hướng mo, một CT nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau cho các vùng miễn trên cả nước. Đây chính là một nguồn tải liệu tham khảo đáng tin cậy giúp cho GV phù hợp hon trong việc thiết kế và tô chức các
hoạt động đạy học.
3. Hướng phát triển của đề tài
Thiết kế tài liệu hướng dẫn day học môn Vật li theo mô hình day học SE dé GV có thêm một phương tiện hỗ trợ hữu ích trong việc dạy học Vật lí theo định hướng của CT GDPT 2018, đồng thời giúp cho các GV cũng như cán bộ quản lí cấp THPT có cái nhìn mới mé hơn về việc dạy học môn Vật lí ở nha trường THPT.
Xây dựng hệ thông câu hỏi, bài tập dé làm công cụ phát triển năng lực vận dụng kiến
thức, kĩ năng vật lí vào thực tiễn, công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ
năng vật lí vào thực tiễn của HS THPT.
Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vật lí vào thực tiễn của HS THPT dé phát hiện và bồi dưỡng nguồn nhân lực chất
lượng cao.
96