CHƯƠNG III. PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở MỘT SỐ NƯỚC ASEAN TIÊU BIỂU
III. CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào nằm trên bán đảo Đông Dương có diện tích 236.800 km2 . Dân số của Lào có 5,5 triệu người (2000). Thủ đô đặt tại Ventiane.
Người Lào dùng ngôn ngữ chính là tiếng Lào (quốc ngữ), ngoài ra còn dùng tiếng Pháp và nhiều ngôn ngữ bộ tộc khác.
Nền kinh tế Lào đang ở trình độ chậm phát triển, nhƣng cũng đã có những sản phẩm xuất khẩu nhƣ gỗ, hàng dệt may, đồ điện... Lào nhập một số mặt hàng chính nhƣ các sản phẩm dầu hỏa, máy móc, thuốc chƣa bệnh và thực phẩm...
6 Trần Thị Vinh : Giáo dục đại học ở một số nước Đông Nam Á Táp chí VN - ĐNA. số 2 ( 15). 1994.
30
Lào vẫn còn ít được biết đến trên thế giới, nhưng đất nước này ở cạnh hai hai nền văn minh lớn của phương Đông là Ấn Độ và Trung Quốc. Người dân Lào đã tiếp thu những phong tục và tín ngƣỡng của hai nền văn minh vĩ đại này cùng với những yếu tố truyền thống văn hóa của mình để hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc.
Sau khi giành đƣợc thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, nhân dân Lào bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Đất nước Lào không còn là
"miền đất bị lãng quên" mà với địa thế của Lào sẽ là lợi thế để quốc gia này đón nhận trào lưu phát triển kinh tế và đổi mới trong vùng, làm biến đổi nhịp sống cổ xưa dọc theo dòng sông Mekong.
2. Hệ thống giáo dục 2.1 Giáo dục phổ thông.
Trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975, nền giáo dục cách mạng phóng Lào ở trong các vùng giải phóng đã có những bước phát triển.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào, sự nghiệp giáo dục cách mạng đã hình thành và từng bước thu được kết quả theo thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, từ năm 1946, ngay sau khi rút vào các khu căn cứ, cách mạng Lào đã tổ chức các đơn vị tuyên truyền xung phong vừa đánh dịch, vừa xây dựng cơ sở chính trị, dạy chữ cho dân. Các khu căn cứ, các đơn vị vũ trang và các ủy ban kháng chiến lần lƣợt đƣợc thành lập, tiến hành xây dựng đời sống trong vùng giải phóng, từng bước tiến hành sự nghiệp văn hóa giáo dục.
Với việc mở rộng các vùng giải phóng thành các khu liên hoàn, yêu cầu phát triển giáo dục ngày một bức thiết hơn. Để đáp ứng yêu cầu đó cùng với việc bảo vệ và xây dựng vùng giải phóng với quy mô một quốc gia, sự nghiệp giáo dục cách mạng cũng từng bước đƣợc hình thành.
31
Từ những năm 1960 sự trưởng thành của cách mạng đã mở ra khả năng to lớn cho sự nghiệp giáo dục Lào phát triển, làm nền tảng cho các thời kì sau.
Ngay từ trong kháng chiến hệ thống quan điểm, đường lối giáo dục của cách mạng Lào đã đƣợc xác định rõ ràng, đúng đắn mang tính chiến lƣợc lâu dài. Hệ thống cơ quan tổ chức chỉ đạo giáo dục được thành lập từ trung ương xuống các địa phương. Những vấn đề cơ bản như nội dung, tính chất, mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa được dần dần được xây dựng Đội ngũ cán bộ, giáo viên và mạng lưới đào tạo được hình thành. Giáo dục Lào trong giai đoạn này tuy trong hoàn cảnh kháng chiến nhƣng cũng đã có đủ các ngành học chủ yếu nhƣ bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, phổ thông, sƣ phạm từ tiểu học, phổ thông trung học đến đại học.
Nền giáo dục cách mạng Lào có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với những truyền thống của đất nước, gắn với con người và xã hội Lào. Với một diện tích chiếm bốn phần năm đất đai của cả nước, vùng giải phóng Lào trong bối cảnh hết sức ác liệt của những năm chiến tranh, từ điểm xuất phát của một nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu nhƣng nền giáo dục cách mạng Lào đã thu đƣợc những thành tựu to lớn làm nền tảng cho giáo dục Lào phát triển sau khi giành đƣợc độc lập.
Giáo dục đƣợc mở rộng ra khắp 17 tỉnh trong vùng giải phóng với số lƣợng học sinh cao nhất trong năm học 1974 -1975 lên tới 109 651 học sinh.
Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập, chính phủ bắt đầu thực hiện chính sách giáo dục cơ bản cho tất cả trẻ em và xóa nạn mù chữ cho người lớn. Mặc dù tỷ lệ biết chữ vẫn còn thấp so với những quốc gia trong khu vực nhƣng với những thành tựu thu đƣợc cho thấy chính sách giáo dục của chính phủ Lào là đúng đắn.
Hệ thống giáo dục phổ thông Lào kéo dài 12 năm.Trẻ em từ khi lên sáu tuổi bắt đầu vào học tiểu học, đến năm mười một tuổi thì bước vào trung học phổ thông, kéo dài sáu năm.
Hiện nay ở Lào có khoảng hơn 7000 trường học.
32
Giáo dục phổ thông là bắt buộc, nhƣng không phải lúc nào cũng thực hiện có kết quả, nhất là ở các vùng nông thôn hẻo lánh, hay đôi với các bộ tộc miền núi.
Năm 1991, chỉ có khoảng 59% trẻ em ở độ tuổi giáo dục tiểu học đến trường học. Ở độ tuổi phổ thông trung học tỷ lệ này còn thấp hơn, chỉ có 15%. Theo thống kê của UNESCO - Tổ chức văn hóa - giáo dục của Liên hiệp quốc thì tỉ lệ học sinh thất học ở Lào là 47%, cao nhất trong các nước Đông Nam Á. Tính tỉ lệ học sinh giữa nam và nữ thì số học sinh nam nhiều hơn số học sinh nữ. Ngân sách dành cho giáo dục để trang bị cơ sở vật chất cho giáo dục khác vẫn còn thấp. Lương cho đội ngũ giáo viên cũng còn rất thấp.
Với truyền thống xã hội Lào, các trường chùa cũng có những ảnh hưởng và đóng góp nhất định vào giáo dục. Trước đây, theo truyền thống, các nhà sư là những người đảm trách hệ thống giáo dục ở Lào. Các lớp học được tổ chức ở sân các ngôi chùa địa phương. Từ khi Pháp thống trị, người ta lập ra các trường học thế tục và dạy tiếng Pháp. Hiện nay một số trường học ở Lào vẫn còn nằm bên trong các khuôn viên chùa, mặc dù giáo viên không còn là các nhà sƣ nữa.
Nhà chùa không chỉ là nơi lễ Phật, nghe kinh mà còn là nơi dân bản họp bàn những việc có quan hệ đến lợi ích chung ... Sƣ sãi hầu hết thuộc tầng lớp nhân dân lao động, lúc nhỏ vào chùa để học lễ nghĩa và học chữ. Những khía cạnh tích cực của Phật giáo nói chung và trường chùa nói riêng góp phần tác động đến các thế hệ trẻ, đến nền giáo dục cách mạng Lào.
Nhà chùa tôn trọng và giữ gìn tiếng Lào, dạy và học bằng tiếng Lào. Nhân dân tự nguyện và có thói quen dạy và học trong các chùa góp phần hình thành nhân cách con người mới theo mục tiêu giáo dục cách mạng như cần cù lao động, yêu thiên nhiên, đất nước, đoàn kết thân ái, và một lối sống giản dị trong sáng, trung thực. Những phẩm chất trên là vừa kế thừa truyền thống, vừa đƣợc củng cố và phát huy trong thời kì mới.
2.2 Giáo dục đại học và chuyên nghiệp
33
Trong vùng giải phóng Lào trước đây, hệ thống các trường chuyên nghiệp đã được hình thành, nhất là hệ thống các trường sư phạm. Số lượng các trường sư phạm đã lên đến 20 trường, trong đó có một trường đại học sư phạm và 2 trường trung học sư phạm.
Hiện nay ở Lào có hệ thống các trường đại học, cao đẳng trong đó Trường Đại học quốc gia ở Vientian là trường đại học lớn nhất ở Lào. Ngoài ra Lào còn có một số trường cao đẳng kỹ thuật ở các vùng khác. Trong những thập niên 1970 và 1980, Lào đã gửi nhiều lưu học sinh sang đào tạo tại Liên Xô hoặc Việt Nam. Việc tranh thủ gửi học sinh đi đào tạo ở nước ngoài ở cấp học đại học, đã giúp Lào nhanh chóng khắc phục tình trạng thiếu nguồn nhân lực trong bối cảnh các trường học ở Lào chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực.