Chương 3. MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
3.4. CÁCH NÓI VÕNG VO TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG
3.4.2. Phân tích cách nói vòng vo trong văn Vi Hồng
Nhà văn Vi Hồng là một trong số các tác giả đã sử dụng phương thức diễn đạt là lối nói vòng vo theo cách sáng tạo riêng, lối nói vòng vo trong văn phong của Vi Hồng mang nét tự nhiên bởi nó không dựa trên cơ sở và quy tắc ngữ nghĩa cú pháp nhất định, ta thường bắt gặp lối nói dài dòng trong khẩu ngữ. Cách nói vòng vo trong ngôn ngữ của Vi Hồng thường xuất hiện ở các lời thoại của nhân vật trong tác phẩm. Sử dụng phương thức diễn đạt vòng vo dài dòng, nhà văn muốn cho bạn đọc tiếp cận với lối nói riêng của người miền núi Cao Bằng, thấy đƣợc sự đa dạng trong lời thoại nhân vật. Đặc biệt hơn là làm cho người tiếp cận tác phẩm thấy được tài năng độc đáo của tác giả khi vận dụng sáng tạo phương thức biểu đạt bằng ngôn ngữ phù hợp với đối tƣợng nhân vật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phương thức diễn đạt vòng vo dài dòng trong văn xuôi Vi Hồng thể hiện chủ yếu trong lời chào hỏi và trong lời tâm sự của các nhân vật.
3.4.2.1. Lối nói vòng vo dài dòng thể hiện trong hành vi chào hỏi.
Chào hỏi cũng nhƣ những hành động nói khác là có khả năng thể hiện đặc trƣng văn hóa của mỗi dân tộc. Có rất nhiều cách chào hỏi khác nhau. Ở những nước phương Tây như Pháp, Tây Ban Nha hay Ý, mọi người thường chào bạn bè bằng cách trao nhau nụ hôn má trong khi đó ở Trung Đông, người Hồi giáo thường ôm người cùng giới khi họ chào nhau. Còn những người châu Á? Những người ở đất nước châu Á thường khá kín đáo, do đó cách họ chào nhau cũng hết sức thận trọng và kính cẩn. Ở Việt Nam, lời chào là hết sức quan trọng. Ngay từ xa xƣa đã có câu nói “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, điều này cho thấy văn hóa chào hỏi đã trở thành một thứ văn hóa không thể thiếu của người Việt. Mặc dù ở tất cả các ngôn ngữ, chức năng cơ bản nhất của chào hỏi là để xác nhận việc nhận biết sự có mặt của người giao tiếp, thể hiện sự quan tâm và khẳng định mối quan hệ hay vị thế của người cùng giao tiếp.
Austin – người sáng lập ra lí thuyết hành vi ngôn ngữ đã xếp lời chào thuộc lớp ứng xử. Đó là hành vi tại lời gồm những “ ứng xử xã hội” nhƣ cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng, ca ngợi, chê trách, nguyền rủa... Đây là “ những hành vi phản ứng lại những cách ứng xử của người khác, những hành vi đáp ứng những sự kiện hữu quan có liên quan tới thân phận và thái độ của người khác”. [6, 121].
Có nhiều cách thực hiện lời chào và đồng thời với nó là nhiều dấu hiệu để nhận biết hành động chào. Các động từ ngữ vi đƣợc coi là một dấu hiệu tiêu biểu. Đó là “ những động từ mà khi phát âm chúng ra là người nói thức hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị”. [6, 97]. Dựa vào sự có mặt hay không có mặt của động từ ngữ vi trong hành vi ngôn ngữ, lời chào thường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
được chia thành hai loại: lời chào tường minh còn gọi là lời chào trực tiếp và lời chào hàm ẩn còn gọi là lời chào gián tiếp.
Hành vi chào trong văn xuôi Vi Hồng đƣợc sử dụng rất nhiều. Tuy nhiên, đi tìm hiểu thì thấy rằng lời chào trong các sáng tác của Vi Hồng không tuân theo một quy tắc lý thuyết cụ thể nào. Có thể thấy rằng cách chào mà Vi Hồng cho các nhân vật của ông sử dụng bị ảnh hưởng bởi môi trường sống, môi trường văn hoá riêng của cộng đồng dân tộc.
Dưới đây là một vài đặc điểm ngôn ngữ dễ nhận thấy qua lời chào hỏi của các nhân vật trong văn Vi Hồng:
- Thứ nhất, lời chào hỏi thường dài dòng, dư thừa từ ngữ
Đây là một đặc điểm làm nên vẻ riêng biệt cho các tác phẩm của Vi Hồng. Có thể nói, Nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng thường chào nhau bằng cách nói dài dòng, vòng vo.
Ví dụ (32): - Em có lời chào anh trai ngồi giường trên, chào anh quý đang uống rượu - cô gái cất tiếng chào rất lịch sự, đúng phong tục và giọng cởi mở rồi quay xuống bếp làm cái gì đó cũng rất đúng phong tục. Linh Thang Nghít ngước nhìn cô gái với cặp mắt của kẻ say rượu nhưng vẫn chưa hết cái ánh mắt đa tình lung linh, nở một nụ cười vẽ vời cánh bướm cánh ong rồi ném theo sau lƣng cô gái một câu trả lời rất trai lơ nhƣng không quá sỗ sàng.
- Chào em gái bông hoa đang nở trên cành, nụ đang hé trên cây, có cánh ong bay dập dìu! Không biết câu chào đẹp của anh em có cho ngủ trọ trong tai phải tai trái. Còn anh xin ngửa hai tay đón câu chào em quý bỏ vào túi gói mười lần khăn hoa.
[48, 25]
Câu chào ở ví dụ trên là lời chào trực tiếp bởi ở trong lời chào này có chứa các động từ ngữ vi “chào”. Nhƣng cách chào ở đây có phần khác lạ bởi những yếu tố ngôn ngữ dư thừa. Một câu chào tường minh thông thường chỉ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cần diễn đạt là “ em chào anh” hoặc “ anh chào em”. Nhƣng ở đây lời chào có kèm theo các thông tin thừa “ anh trai ngồi giường trên”, “anh quý đang uống rượu”, “ em gái bông đang nở trên cành, nụ đang hé trên cây, có cánh ong bay dập dìu”. Nếu chỉ xét về hành vi chào hỏi thì lƣợng thông tin đƣa thêm sẽ làm cho câu chào này trở nên vòng vo dài dòng, thừa thông tin. Việc đƣa thông tin thừa trong hội thoại là vi phạm quy tắc hội thoại, cụ thể đó là phương châm về cách thức. Vi phạm quy tắc hội thoại sẽ tạo ra hàm ngôn, và đây chính là ý đồ nghệ thuật của nhà văn khi cố tình sử dụng cách nói dài dòng.
Theo kết quả điều tra của chúng tôi, Vi Hồng sử dụng hầu hết cách chào nhƣ trên trong tác phẩm của mình.
- Thứ hai, câu chào trong tác phẩm của Vi Hồng có thể là hành vi ngôn ngữ trực tiếp và có thể là hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Theo tƣ liệu của chúng tôi, trong số 106 lƣợt hành vi chào đƣợc dùng trong tác phẩm của Vi Hồng thì có 89 lƣợt là hành vi ngôn ngữ trực tiếp, số còn lại là hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Nhƣ vậy, hành vi chào là hành vi ngôn ngữ trực tiếp đƣợc sử dụng chủ yếu trong văn Vi Hồng.
Xin dẫn thêm một vài ví dụ về hành vi chào đƣợc dùng theo lối trực tiếp.
Ví dụ (33): Em có lời chào bác Cháp Chá, con người của thông minh và nhân nghĩa. Mời bác ngồi tạm ở những chiếc ghế long chân của nhà em.
Nhà em nhà cây lau cây sậy, bác thở mạnh còn rung, bác đi nhanh liền đổ.
[50, 63]
Ví dụ (34): Em có lời đẹp chào anh giữa đèo, lời hay chào anh giữa bản – Nàng Ngọc Ngà cười bừng nở cả khuôn mặt đến rạng rỡ. Thế Ru thì ngơ ngác mãi.
[49, 22]
Ví dụ (35): Em có lời đẹp chào anh trong nhà, có lời phiền hỏi anh tin tức. Thưa anh,ở mường này có ai tên là Sầm Vàng Khao không ạ.
[49, 18]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ví dụ (36): Tiếng tù huýt thổi lên dần tới đỉnh núi thì dừng. Đán và Cốc nhìn thấy cái bóng thằng Vạng thật.
Vạng chạy đến cười hề hề...
- Tôi xin có lời vàng ngọc chào các bạn quý. Chào bông hoa đằng trước, chào cái quả tròn đằng sau.
[47, 90]
Ví dụ (37): Ta có lời đẹp chào nàng Va Đáo. Nàng có biết ta chăng?- Lão vừa nói vừa cười hềnh hệch một cách vô duyên. Va Đáo nhìn thấy lão ta quá quen nhƣng vẫn không nghĩ ra lão là ai, làm quan gì.
[49, 107]
Tất cả những câu chào trong năm ví dụ vừa dẫn đều là hành vi ngôn ngữ trực tiếp.
Hành vi chào trong ví dụ dưới đây là hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
Ví dụ (38): Ôi ... anh Cháp Chá! Anh Cháp Chá!...- Cái tiếng chào vồn vã nhƣ bị tắc nghẽn tự trong tim. Cháp Chá giả vờ dựng mắt, vênh tai ngơ ngác nhƣ một con trâu già lạc đàn.
[50, 170]
Hành vi chào đƣợc Vi Hồng sử dụng thông qua hành vi ngôn ngữ biểu cảm.
- Thứ ba, câu chào trong sáng tác của Vi Hồng thường có khuôn mẫu giống nhau
Tất cả các ví dụ đƣợc trích dẫn ở trên cho thấy, các nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng là những người dân tộc thiểu số, dù là các nhân vật có vị thế giao tiếp cao hay vị thế giao tiếp thấp, họ đều có cách chào theo một khuôn mẫu giống nhau hoặc gần giống nhau. Mẫu chung trong cách chào là :
“ Em có lời chào...”, “Em có lời đẹp chào...”, “ Tôi xin có lời...chào...”, “ Ta có lời đẹp chào...”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Vi Hồng là một trong số ít các nhà văn người dân tộc thiểu số. Ông đã tìm hiểu và nghiên cứu sâu về văn hóa dân gian cũng nhƣ phong tục truyền thống của chính dân tộc mình. Việc sử dụng cách thức chào hỏi gần gũi với cách chào hỏi trong đời sống thường nhật của cộng đồng dân tộc trên quê hương tác giả đã phần nào cho thấy nhà văn thực sự gần gũi với đồng bào mình.
Nhƣ đã biết, lời chào là một nét đẹp văn hoá trong giao tiếp của con người. Mỗi người trong giao tiếp đều lựa chọn cho mình một cách thức diễn đạt khác nhau để thực hiện mục đích và phong cách nói năng của mình. Vi Hồng cũng thế, bằng sự gần gũi với lối sống của nhân dân mình, dân tộc nơi quê hương mình, ông đã có sự diễn đạt sáng tạo, ngay cả trong việc thể hiện hành vi chào hỏi.
3.4.2.2. Lối nói vòng vo dài dòng trong lời tâm sự hay lời tỏ tình
Bên cạnh lối chào hỏi dài dòng thì trong lời tỏ tình hay tâm sự, ngôn ngữ nhân vật trong sáng tác của Vi Hồng cũng có cách diễn đạt dài dòng.
Dưới đây là một số ví dụ.
Ví dụ (39) : Dạ thưa các chú, cháu còn trẻ người non dạ, xác thì lớn nhưng tim chưa lớn, miệng biết ăn mà chưa biết nói. Cháu là con chim chích ngoài bụi, suốt đời chỉ biết xin trời đất mà ăn mà sống – Tô Ngần nói chậm dãi, lịch sự một cách rề rà theo lối cổ. Ý chừng các vị sốt ruột quát lên một cách gay gắt.
[50, 325]
Ví dụ trên đƣợc trích trong tác phẩm Chồng Thật Vợ Giả. Khi nhân vật Tô Ngần phân bua với các ông ở viện kiểm sát về việc có tiền để xây nhà to, Tô Ngần không nói thẳng vào việc mình tự chăm chỉ kiếm tiền mà nói vòng vo rề rà không nói vào việc giải thích cho vấn đề chính là lấy đâu ra tiền để làm nhà to khiến cho người đối thoại sốt ruột quá phải gắt lên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong một hoàn cảnh khác, để tâm sự về chuyện đời tƣ của mình, nhân vật trong tác phẩm của Vi Hồng cũng thường dùng cách nói vòng vo dài dòng trước khi đi vào câu chuyện chính.
Ví dụ (40) : Thưa các cụ cùng các bạn, bây giờ tôi nói về chuyện riêng của tôi. Tôi làm chủ nhiệm nhưng vì có chuyện riêng nên lòng hơi nặng, nên ít nói, ít cười…
Đáng lẽ chuyện này tôi chỉ chôn nó trong lòng khi mình chưa chết.
Chết thì tôi chỉ kể với run đen dế đỏ mà thôi. Nhưng tôi lại là người có quan hệ với mọi người mọi nhà. Tôi kể chuyện riêng ra đây có ai là người nối lòng, chắp ý nghĩ (thông cảm) với tôi thì tôi cảm ơn, còn ai ghét tôi, thì tôi xin chịu... tôi xin chịu gánh cái gánh xấu trên vai, tôi không ngại ngần.
[47, 153]
Tương tự, ví dụ (42) và ví dụ (43) dưới đây cũng là những minh chứng cho cách nói vòng vo, dài dòng của tác giả khi ông miêu tả lại lời thoại của nhân vật.
Ví dụ (42) : Lả thở hồng hộc, hỏi dồn hỏi giập, giọng lạc đi nhƣ trong cơn mê sảng. Ban phải dướn cặp lông mày rậm và sắc lên tỏ vẻ quyết liệt Lả mới chịu yên. Ban nói.
- Cho quả tim dừng lại không đập, cho lòng rỗng không như ba ngày nhịn đói mà nghe đây! Sau khi tao gặp con khỉ đánh đu làm ma khóc mẹ lại gặp con vượn đen làm ma khóc chồng, tao đã gặp anh Nghít của mày. - Nghe Ban nói đến anh Nghít Lả thôi định chồm lên, ngồi yên nghe Ban nói tiếp.
[48, 49]
Ví dụ (43) : Thưa bác ngồi trước bàn thờ, thưa bá ngồi ở ghế cạnh bếp, cháu xin có lời cởi lòng nói cùng bá. Rằng, bác bá đừng mắng chửi, đừng nói câu nặng nhƣ đá đối với em Lả nữa...
[48, 35]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ở hai ví dụ này, cách diễn đạt của các nhân vật cho thấy đƣợc nét chung là sự vòng vo dài dòng. Nhân vật không chú ý đi vào trọng tâm của cuộc giao tiếp, mà có sự vòng vo đƣa đẩy trong lời nói. Từ những các nói, cách diễn đạt nhƣ trên trong giao tiếp có thể hiểu rằng cách nói và diễn đạt mang dấu ấn địa phương. Ở những khu vực có đồng bào dân tộc sinh sống thì cách sử dụng ngôn ngữ trong diễn đạt mang dấu ấn vùng miền. Người dân tộc thường không sử dụng cách nói ngắn gọn, hàm xúc như ở các vùng miền khác. Ngƣợc lại với cách diễn đạt theo lối phổ thông, nhân vật của Vi Hồng thường có cách dùng từ ngữ và diễn đạt vòng vo hơn và dài dòng hơn.
Cách diễn đạt vòng vo dài dòng nhiều khi còn thể hiện thái độ thân mật, lịch sự của người nói đối với người nghe.
Ví dụ (44) : Vạng ngồi đấy nói ngon ngọt hơn cả mật cả đường. Slao mấy lần định đuổi anh ta ra về, nhƣng cô lại nghĩ: mình là con gái, con trai là người gặp hoa ngửa tay xin, nhưng mình không cho thì thôi. Slao nói thân mật, an ủi :
- Ruồi dễ chết vì mật ngọt. Con gà gô tự nó chui vào thòng lọng đuôi ngựa, bởi cái sáo giả tiếng chim. Vực sâu mười bảy sải tay có người lặn được, lòng người không ai đo được. Ai đã dễ gì đi guốc trong bụng ai? Anh có thật lòng như lời anh nói thì hãy đợi hoa sẽ nở, đến mùa quả quả sẽ chín.
Bây giờ anh về đi ! Để tôi còn đọc sách. Tôi bận lắm, tôi không có thì giờ để nói chuyện hoa bướm với anh nhiều thế đâu.
[47, 117 – 118]
Trong Lòng Dạ Đàn Bà, khi nhân vật Tu tới nhà Lả để nói chuyện với bố mẹ Lả về việc khước từ làm đám cưới với Lả bởi Tu biết Lả không yêu mình, Tu đã dùng lối nói vòng vo dài dòng kèm theo những hình ảnh rất độc đáo để từ chối :
Ví dụ (45) : Không được ! - Mẹ Lả đang xào rau dưới bếp nói to vọng lên giường trên - Tao không cần văn hoa, không dài dòng, không lí sự, và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cũng chẳng tình nghĩa trong việc này. Con Lả nhà bá phải lấy cháu mày hiểu chưa : Vì đầu bốn bố mẹ đã gật, lời bốn bố mẹ đã thấm vào đá, hai người đã ăn hỏi. Đường phên chục cân hỏi cô dâu nhà này đã ngọt mâm, ngọt đĩa. Gà sống thiến vài đôi hỏi vợ trẻ vợ đẹp đã luộc, đã quay đầu cúng bàn thờ tổ tiên.
Chúng mày không xa nhau đƣợc !
- Cháu có lời đẹp, lời ngon ngọt cảm ơn bác bá đã quý cháu, mong cháu thành con rể đáng giá trăm con trâu, đắt ngang trăm lạng vàng. Nhưng thưa bác, bá sợ lại như người xưa nói cỏ non đấy, lấy vồ đập đầu trâu không xơi – Quả ngon chín mọng trên cành đấy ấn vào miệng khỉ, khỉ không ăn : Nếu cảnh đó xảy ra thật thì khó cho hai trẻ, như kẻ ngồi mảng lạc vào xoáy nước giữa lòng vực. Tu còn muốn nói nhiều nữa, nói cho bao giờ bố mẹ Lả không mắng Lả, không bắt ép hai đứa lấy nhau nữa mới thôi. Nhƣng bố mẹ Lả càng nói càng bốc lửa lên mặt, tiếng càng to như tiếng thác nước đổ từ trên cao.
[48, 37]
Ví dụ vừa dẫn cho thấy, ngay trong cách từ chối một sự việc, nhân vật của Vi Hồng đều có cách nói, cách diễn đạt dài dòng và vòng vo. Các nhân vật của Vi Hồng đều là những con người miền núi, sống trong nghèo khó, nhƣng về văn hóa giao tiếp bằng ngôn ngữ của họ không hề nghèo. Bởi ẩn trong cách diễn đạt vòng vo dài dòng là một sự tinh tế trong giao tiếp.
Tóm lại, cách nói vòng vo dài dòng là một đặc điểm về phương thức thể hiện ngôn ngữ trong văn xuôi Vi Hồng. Cách sử dụng lối nói vòng vo của Vi Hồng mang một đặc điểm riêng, nó không đơn thuần là cách diễn đạt sáo rỗng rườm rà theo kiểu vòng vo tam quốc như dân gian thường nói. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy việc sử dụng phương thức diễn đạt này mang dụng ý của nhà văn: muốn thể hiện tâm hồn cốt cách của chính dân tộc mình trong đó.