LỚP TỪ NGỮ RIÊNG CỦA VI HỒNG

Một phần của tài liệu Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng (Trang 71 - 74)

Chương 2. MỘT SỐ LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI VI HỒNG

2.4. LỚP TỪ NGỮ RIÊNG CỦA VI HỒNG

Ngoài ba lớp từ ngữ là : từ ngữ của tiếng dân tộc, từ ngữ khẩu ngữ và từ địa phương, trong văn Vi Hồng còn một lớp từ ngữ đặc biệt, đó là lớp từ của riêng Vi Hồng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chúng tôi gọi đó là lớp từ ngữ của riêng Vi Hồng là bởi vì những từ ngữ này do ông sáng tạo và chỉ ông mới dùng nhƣ vậy. Để hiểu đƣợc những từ ngữ này, nhà văn phải chú thích nghĩa bên cạnh hoặc người đọc phải dựa và ngôn cảnh để suy ra nghĩa.

Theo thống kê bước đầu của chúng tôi, số từ ngữ riêng của Vi Hồng khá nhiều: có 36 trường hợp.

Những từ ngữ này có thể là từ ngữ mới do Vi Hồng tự sáng tạo bằng cách mƣợn vỏ ngữ âm của tiếng Việt, gán cho nó nghĩa mới hay đó cũng có thể là những cụm từ tiếng Việt do nhà văn kết hợp các từ để tạo nghĩa bất thường, khác lạ.

2.4.2. Phân loại và miêu tả lớp từ ngữ của riêng Vi Hồng

Theo thống kê của chúng tôi, những từ ngữ đƣợc Vi Hồng sáng tạo có thể là danh từ (cụm danh từ), động từ (cụm động từ), song loại thứ hai chiếm số lƣợng nhiều hơn.

2.4.2.1. Từ ngữ là danh từ hay cụm danh từ

Theo tƣ liệu của chúng tôi, từ ngữ là danh từ hay cụm danh từ do Vi Hồng sáng tạo có 15 trường hợp. Dưới đây là một số ví dụ:

Ví dụ (75): Hoàng vừa nói vừa chọn từ ngữ sao cho hợp khẩu vị thằng Thìm để có thể khai thác ở nó những điều bí mật về Châu Đoàn Pàng.

[51, 270]

Khẩu vị ở đây đƣợc dùng với nghĩa là “ ý”, “gu”. Hợp khẩu vị có nghĩa là hợp ý, hợp gu.

Ví dụ (76): Những con số đứng cạnh nhau, nó biến hóa vô cùng. Ngần ấy “chữ mẹ” (cái) thôi mà đứng cạnh nhau không bao giờ hết chỗ đứng.

[51, 51]

Chữ cái đƣợc nhà văn thay bằng chữ mẹ. Ở đây tác giả tạo từ mới bằng cách đã khéo léo dùng một từ Việt cổ thay cho một yếu tố của từ vốn có, cụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

thể, tác giả đã thay yếu tố cái bằng yếu tố mẹ . Theo nghĩa cũ, cái cũng có nghĩa là mẹ.

Tương tự, ví dụ (77): Và có thể chính tên Châu Đoàn đã giết... “cái mũi ngoằm của diều hâu đá chỉ lồi về phía chỗ nằm vạn năm...”, riêng câu này thì còn bí hiểm.

[51, 243]

Chỗ nằm vạn năm ở đây được nhà văn dùng để chỉ nơi chôn người chết mà người ta thường gọi là nghĩa địa hay nghĩa trang.

Nụ cười cá bơi trong ví dụ (78) sau đây cũng là một sáng tạo của tác giả:

Ví dụ (79): Tao ăn bữa cá “pia quải” no quá mày ạ! Ông ta đi ra bồn nước ở đầu nguồn. Vàng Khao quay đi giấu một nụ cười cá bơi.

[50, 222]

Nụ cười cá bơi có nghĩa là nụ cười khẩy, cười miệt thị. Khi Vàng Khao thấy ông trưởng trạm ăn cá pia quải (cá rút xương, thái thành từng lát vuông to hơn bàn tay sau đó dúng vào chảo mỡ đang sôi khiến nó xèo lên một tiếng rồi cuộn tròn như miếng chả quế) quá no phải ra mỏ nước ngâm mình cho đỡ khó chịu thì Vàng Khao đã cười khẩy, tỏ ý khinh miệt sự ăn uống thiếu tế nhị của ông trạm trưởng.

2.4.2.2.Từ ngữ Vi hồng sáng tạo là động từ hay cụm động từ

Loại từ ngữ này có số lƣợng không nhiều. Theo thống kê của chúng tôi, mới chỉ có 21 trường hợp. Xin dẫn một số ví dụ dưới đây:

Ví dụ (80): Chừng nào chƣa đuổi bắt đƣợc tờ phong slƣ thì Hoàng vẫn ngƣợc xuôi để tìm kiếm nó.

[51, 239]

Từ đuổi bắt ở đây đƣợc tác giả dùng với nghĩa là tìm.

Một ví dụ khác, ví dụ (81): Trâu cái rất nhớ thằng Thìm, (...). Hôm không gặp thằng Thìm thì nó lao vào tận giữa nhà và kêu những tiếng ngá ọ rất to, làm hai đứa trẻ chết khiếp, khóc cháy sáng cả mặt.

[51, 278]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Khóc cháy sáng cả mặt có nghĩa là khóc lặng đi, mặt trắng bợt, cắt không còn hạt máu vì sợ.

Có thể nói, trong văn Vi Hồng có khá nhiều những kiểu kết hợp lạ, bất thường, kiểu như: “Cười câm, cười trâu, cười đái” (cười nhe răng nhưng không thành tiếng), “run nhong nhóc” (run nhƣ cầy sấy), “đo lưỡi so miệng

(bàn tán, đàm tiếu), “lời nối lời, miệng nối với miệng” (bình đẳng),...

Dưới đây là một số ví dụ về những tổ hợp từ do Vi Hồng sáng tạo này:

Ví dụ (82): Vào tù nó càng ở bẩn nữa. Nó cười câm, cười trâu, cười đái suốt ngày. Ai hỏi gì nó cũng không trả lời, chỉ cười theo kiểu của nó thôi.

[51, 118]

Ví dụ (83): Ba người ba ngựa đang ào ào qua một đoạn đường vắng thì có bọn cướp xông ra ghìm cương ngựa lại. Cô gái xinh đẹp đeo túi tiền run nhong nhóc.

[48, 45]

Ví dụ (84): Tôi nghe người ta đo lưỡi so miệng với nhau về cô, tôi lại nghe có chuyện không đƣợc vui lắm.

[47, 76]

Ví dụ (85): Hôm nay tao nói chuyện với mày, tao vui lắm Hoàng à! Hôm nay tao đƣợc nói chuyện lời nối với lời, miệng nối với miệng (ý là bình đẳng).

[51, 269]

Tóm lại, lớp từ ngữ đặc biệt là sáng tạo của Vi Hồng vừa dẫn đã đem lại hiệu quả không nhỏ, chúng đã góp phần làm nên dấu ấn riêng cho các tác phẩm của tác giả.

Một phần của tài liệu Đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Vi Hồng (Trang 71 - 74)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(114 trang)