Chương 2. MỘT SỐ LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI VI HỒNG
2.1. LỚP TỪ NGỮ CỦA TIẾNG DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG
2.1.2. Phân loại lớp từ ngữ tiếng Tày trong tác phẩm của Vi Hồng
Có thể phân loại lớp từ ngữ tiếng Tày đƣợc nhà văn Vi Hồng sử dụng từ nhiều góc độ nhƣng luận văn này chỉ dựa vào 2 tiêu chí, đó là dựa vào chức năng và ngữ pháp.
2.1.2.1. Phân loại theo chức năng
Có thể thấy, điểm nổi bật trong các sáng tác của Vi Hồng là ở khả năng sử dụng đan xen các từ ngữ tiếng dân tộc tạo nên ấn tƣợng đặc biệt với độc giả. Với việc sử dụng hiệu quả lớp từ ngữ tiếng Tày, tác phẩm của ông làm cho người đọc cảm nhận đƣợc cuộc sống hơi thở của đồng bào dân tộc ở Việt Bắc.
Từ ngữ tiếng Tày đƣợc nhà văn Vi Hồng sử dụng chủ yếu để gọi tên nhân vật trong tác phẩm, hành động của người, tính chất của sự vật; tên địa danh; tên các sản vật ở địa phương; đồ dùng trong gia đình hay nói về các phong tục của người Tày, v.v…
Có thể nói, với 122 từ ngữ tiếng Tày và 1530 lƣợt xuất hiện, chúng đã làm cho từng trang viết của Vi Hồng hiện lên rõ nét những địa danh, nhân vật, các sản vật, đồ dùng… và phong tục của người Tày.
Chức năng định danh là chức năng cơ bản của các từ ngữ tiếng dân tộc trong tác phẩm của Vi Hồng. Dưới đây là một số loại đối tượng có tên gọi bằng tiếng Tày được Vi Hồng dùng khá thường xuyên trong 5 tác phẩm đã dẫn.
- Từ ngữ tiếng Tày dùng để gọi tên nhân vật trong tác phẩm:
Trong số 122 từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng trong 5 tác phẩm nói trên, có 47 từ ngữ đƣợc dùng để gọi tên nhân vật trong tác phẩm. Với cách đặt tên nhƣ: Tốc Thiêng, Thể Soai, Va Đáo, Lai Cảng, Cảo Mẳng, Hoong Vằn, Thieo Si, Rằng Xao… người đọc cảm nhận tác phẩm của Vi Hồng đậm chất Tày ở miền núi đông Bắc. Xin dẫn một vài ví dụ:
Ví dụ (1): Rằng Xao bỗng thấy thương bố, anh nhỏ nhẻ, nhẹ nhàng thanh minh với ông bố già mong ông vui lòng mà tĩnh dƣỡng thuốc thang.
[50,85]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ví dụ (2): Không đƣợc đâu Tốc Thiêng à! Tốc Thiêng chỉ là “ noọng xài” của chị thôi. Chị đã có chồng.
[49, 215]
Ví dụ (3): Anh muốn nói đến nàng Va Đáo chứ gì. Từ ngày anh vào tù, Va Đáo có đến thăm anh bao giờ đâu mà anh còn gửi thương, gửi nhớ!
[49, 160]
Trong các ví dụ vừa dẫn, Rằng Xao, Tốc Thiêng và Va Đáo là tên của hai nhân vật trong tác phẩm “Chồng thật vợ giả” và “Phụ tình” của Vi Hồng.
- Từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để gọi tên địa danh:
Theo tư liệu điều tra của chúng tôi, có 18 trường hợp từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để gọi tên địa danh. Trong tác phẩm mà Vi Hồng sáng tác xuất hiện khá nhiều những cái tên địa danh rất quen thuộc của người Tày.
Đó có thể là tên đất nhƣ: Nặm Thoong, Chín Thoong, Nặm Cáp, Nặm Giái, Nặm Nàng, Nặm Đút, Nặm Tốc Rù, Nặm Đáo, Pế Vài, Phi Eng, Tắng Thả… hay tên bản làng, tên những con sông, dòng thác. Đọc tác phẩm Tháng năm biết nói, cái tên thác Chín Thoong in đậm trong tâm trí người đọc bởi cái tên này đƣợc nhắc lại khá nhiều lần, trở đi trở lại trong tác phẩm. Nó gợi cảm giác êm ái, yên bình, vừa rất dài lại rất xa. Hoặc những cái tên như Nặm Thoong, Nặm Cáp, Nặm Đáo cũng xuất hiện thường xuyên trong tác phẩm Phụ tình. Những từ ngữ chỉ nơi trốn cụ thể này khiến người đọc càng có hứng thú cũng như tin tưởng về sự chân thực khi đọc tác phẩm. Dưới đây là một số ví dụ tiêu biểu:
Ví dụ (4): Hoàng nghĩ dài, nghĩ nhiều, căng thẳng, nhưng những đường ý nghĩ cứ mát nhƣ dòng sông trong vắt đang tuôn chảy ầm ào. Hoàng nghĩ bộn bề, căng thẳng những ý nghĩ trẻ con chồng chéo lên nhau, réo sôi nhƣ con thác Chín Thoong.
[51,7]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Một ví dụ khác, ví dụ (5): Cách đây hai mươi mốt đời, họ Đàm đã từ một nơi rất xa đến vùng Nậm Đáo mở rừng, mở đất làm nên ruộng đồng nương rẫy…
[47,13]
Ví dụ (6): Kéo Thả Căn (đèo đợi nhau) nằm ở giữa mường Nặm Thoong và Nặm Cáp là một miền đèo, những ngọn núi đá dựng trời. Ở Kéo Thả Căn người ta chỉ cần lượn lên một tiếng là vác đá sẽ ngân lên làm mấy tiếng và ngân nga kéo dài mãi theo những vác đá.
[49, 6]
- Từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để gọi tên các sản vật trong gia đình hay trong tự nhiên
Có 30 trường hợp các sản vật trong gia đình được gọi tên bằng tiếng Tày mà nhà văn Vi Hồng đã nhắc đến trong tác phẩm của mình. Có thể nói, từ các dụng cụ thân thuộc dùng trong sinh hoạt hàng ngày nhƣ pịa mịt (tên gọi một loại dao), Phai xuốc / xuốc (dụng cụ bắt cá)… đến tên các loài vật nuôi nhƣ tu cáy, tu pắt, tu mu, tu vài…(gà, vịt, lợn, trâu bò…), hay tên các loại cây cối, các sản phẩm ẩm thực của quê hương cũng đã được nhà văn Vi Hồng kể ra trong khá nhiều trang viết.
Dưới đây là một vài ví dụ về từ ngữ tiếng Tày được Vi Hồng dùng để gọi tên các sản vật ở địa phương:
+ Từ tiếng Tày dùng để gọi tên các dụng cụ trong nhà, ví dụ:
Ví dụ (7): Lão cầm cái gậy ấy luôn chỉ trỏ hệt nhƣ cái ngày lão còn đương chức quan chánh vậy… Lão còn khoái hơn cả mấy lão tảo (mo) sau mấy chục năm lại đƣợc lau chùi choong nào đực, choong nào cái (chiêng núm, chiêng bằng)…
[47, 97]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tương tự, ví dụ (8): Lả cùng những cô gái đẹp của mường Nước Hang Rơi xách những “pủm” (một loại chum nhỏ, có quai xách, có vòi rót chuyên dùng đựng rượu) đi đến từng mâm rót rượu từng bát dâng mời từng người.
[47, 59]
Ví dụ (9): Đã hai ngày “xuốc”(dụng cụ bắt cá), cục xong chẳng đƣợc con cá nào.
[51, 93]
+ Từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để gọi tên sự vật không phải là dụng cụ lao động hay phục vụ sinh hoạt, nhƣ bài văn, bài thơ, v.v…, ví dụ:
Ví dụ (10): Bác ấy bảo bác chép trong một cuốn sách chữ Nôm gồm nhiều bài “phong slư”… Nhƣng cuốn sách ấy những ngày chạy giặc Nhật đem giấu vào hang đá mục mất rồi.
[51, 234]
“Phong slƣ” là từ chỉ phong thƣ nói về tình yêu.
+ Từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để gọi tên các sản phẩm ăn uống đƣợc làm từ lúa ngô hay các loại thuốc uống.
Ngoài việc sử dụng danh từ để gọi tên người, tên địa danh hay các đồ vật trong nhà, Vi Hồng còn rất khéo léo trong việc giới thiệu cho người đọc biết đến quê hương mình với hàng loạt sản phẩm ẩm thực. Đó là các loại bánh ngon của người Tày, như: Khẩu si, Pẻng cắt, Pẻng Va, Thúc théc,…ví dụ:
Ví dụ (11): Bác hỏi thật nhé, ngoài bánh giày ra, cháu có thích “khẩu si”, “thúc théc”, “pẻng cắt”, “pẻng va”… không?
[48, 120]
Ví dụ (12): Người đàn bà kỳ lạ lại đưa hai cái “coóc mò” rất to cho hai đứa nhỏ…
[48, 79]
“Khẩu si” là một loại bánh chủ yếu đƣợc làm từ xôi và khoai tàu đồ giã mịn, phơi khô sau đó đem chiên mỡ cho phồng, thường được người Tày làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vào dịp tết để đãi khách đến chúc tết. “Thúc théc”, “pẻng cắt”, “pẻng va”,
“coóc mò” cũng là các loại bánh của người Tày được làm từ gạo nếp hoặc ngô nếp.
Trong ví dụ (13) dưới đây, từ tiếng Tày được Vi Hồng sử dụng lại là từ chỉ một loại thuốc uống.
Ví dụ (13): Thật tiếc lắm! Thuốc uống uống cho vô sinh người Tày mình gọi là “gia măn”. Còn thuốc uống cho có con là “gia ún đang”- cháu cũng biết rồi đấy.
[51, 229]
Thuốc uống cho vô sinh (gia măn) là loại thuốc uống vào sẽ không có con, còn thuốc uống cho có con (gia ún đang) thì ngƣợc lại, là thuốc chữa bệnh vô sinh. Những người không có con uống vào sẽ thụ thai.
+ Từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để gọi tên các loài động vật, hay sản phẩm làm từ động vật, ví dụ:
Ví dụ (14): Tao ăn bữa cá “pia quải” no quá mày ạ!...Vàng Khao quay đi giấu một nụ cười cá bơi.
[50, 223]
Ví dụ (15): Chỉ có nghé đực người ta mới gọi là “vài mu”. Những con nghé cái đặc biệt, rất lạ của nhà Châu đoàn Pàng cũng được mọi người gọi là
“vài mu”.
[51, 44]
Vài mu là từ để chỉ con trâu to, khỏe, đẹp. Ở đây từ này đƣợc dùng để chỉ những con nghé cái của nhà Châu Đoàn Pàng vì những con nghé này cũng rất khỏe, rất đẹp.
+ Từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để gọi tên các loài cây cối, ví dụ:
Ví dụ (16): Thằng Thìm xào nhân đỗ với thịt trong bếp, mùi tỏi, mùi gừng hương (khinh phia) tỏa ngào ngạt cả căn nhà.
[51, 163]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ví dụ (17): Cây mác bát đẹp đẽ biết bao, nhƣng trong lòng cây thì chứa đầy những chất độc.
[51, 258]
Ví dụ (18): Hết rừng mạy đẩy lại đến rừng “mạy khem”, “mạy mủ”
cùng lau sậy. Đó là những loại cây mọc lên từ nương ót (bạc màu). Những rừng cây ấy là thành rừng lúp xúp, là quê hương của hổ báo.
[48, 18]
Trong ba ví dụ vừa dẫn, các từ khinh phia, mác bát, mạy đẩy, mạy khem, mạy mủ là tên gọi của một số loài cây thường mọc trên núi. Khinh phia là một loại gừng núi, rất thơm thường được người Tày dùng làm nhân bánh, ướp thịt để làm lạp xường. Mác bát là tên một loại cây mọc trên núi có hoa trắng rất đẹp nhưng có nhựa độc. Người dân miền núi thường lấy quả mác bát để bắt cá. Chất độc của quả mác bát làm nổ cả mắt của những con cá còn đang bơi lội. Còn mạy đẩy, mạy khem, mạy mủ là những loài cây nhỏ mọc trên núi.
- Từ ngữ tiếng Tày là từ đƣợc dùng để xƣng hô trong gia đình hay xã hội:
Những từ ngữ đƣợc Vi Hồng dùng để xƣng hô trong giao tiếp nhƣ:
noọng xài (em trai nhƣng không phải em ruột), tồng (bạn thân), mẻ bióoc (bà mụ), sao (chị nhƣng không phải là chị ruột),… ví dụ:
Dẫn lại ví dụ (2): Không đƣợc đâu Tốc Thiêng à! Tốc Thiêng chỉ là “ noọng xài” (em trai) của chị thôi. Chị đã có chồng noọng xài à.
[49, 215]
Ví dụ (19): “Noọng xài” ơi! (em trai nhƣng không phải ruột thịt) lên chơi với “sao” (chị) với các anh thì lên! Noọng Xài, tốc Thiêng còn non trẻ lắm. Còn chị đã có con sao em lại gọi là em đƣợc.
[49, 214]
Các từ “Noọng Xài”, “sao” trong hai ví dụ vừa dẫn là các danh từ chỉ quan hệ thân tộc đƣợc dùng để xƣng hô.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Từ ngữ tiếng Tày được dùng để chỉ hành động của con người:
Có thể nói, từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để chỉ hành động của con người trong tư liệu của chúng tôi không nhiều. Mới thấy có 9 trường hợp trong 5 tác phẩm mà chúng tôi đã chọn làm nguồn ngữ liệu, xin dẫn ra một vài ví dụ tiêu biểu dưới đây:
Ví dụ (20): Ban đêm Cháp Chá đòi bẻ hoa, dâng quả, đòi “ làm eo”
(làm tình), nhƣng Thu Lú kiên quyết giữ gìn, làm cho anh chàng Cháp Chá ngày càng khao khát. Anh ta khao khát như kẻ khát nước vì đã trót ăn nhiều quả mặn.
[50, 12]
Ví dụ (21): Nếu không có Hoàng cấy để họ bắt chước thì họ khổ lắm.
Vì chỉ có mảnh ruộng con con cũng cất miệng đi nhờ người đàn bà này, người con gái nọ cấy hộ. Còn này “loát nà” (bừa lần cuối để cấy) thì đã đành cất miệng để nhờ.
[51, 67]
Ví dụ (22): Thằng Thìm có nước da đen bóng, y như tấm vải nhuộm chàm đặc, đã lên nước mấy lần. Vì thế từ ngày đẻ ra nó đã mang nhiều cái tên mà người trong bản đạt cho nó: …. Nó còn mang cái tên chung hơn là “người ốt” (nhuộm chàm).
[51, 30]
Ví dụ (23) và (24) dưới đây, từ tiếng Tày cũng là từ chỉ hành động của con người.
Ví dụ (23): Trong khi hàng trăm người, có thể đông hơn nữa thi nhau “ vận chuyển những bát gạo số mệnh” một cách nhiệt tình(…) ngoài hàng người hát những bài hát có nhạc điệu giục giã thôi thúc, như điệu “pây mạ”
(trẩy ngựa).
[49, 168]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tương tự, ví dụ (24): Bẩm quan lớn tôi đã nhiều lần trình bày với ông là thằng bé Thế Ru chẳng có thứ gì “ rào nả” cho tôi cả.
[49, 83]
- Từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để chỉ đặc điểm của sự vật:
Chỉ có 6 trường hợp từ ngữ tiếng Tày là tính từ (cụm tính từ) dùng để chỉ tính chất của người hay sự vật được Vi Hồng sử dụng, xin dẫn ra dưới đây một số ví dụ tiêu biểu:
Ví dụ (25): Họ gọi nó là Khún (chàm đặc), thằng Xỏm (nước chàm).
[51, 30]
Khún, xỏm là hai tính từ mang nghĩa bóng là “đen” để chỉ nước da đen, được ví như nước chàm, nước chàm đặc.
Ví dụ (26): Bây giờ bố cho con tự chọn một chàng “báo quai” cùng thi với anh Bùng. Ai thắng thì người đó là chồng con.
[51, 205]
Báo quai là từ mang nghĩa khỏe mạnh, đẹp trai, tài giỏi. Chàng “báo quai” được Vi Hồng dùng để chỉ người con trai khỏe mạnh, đẹp và có tài.
Tương tự, ví dụ (27): Hết rừng mạy đẩy lại đến rừng “mạy khem”,
“mạy mủ” cùng lau sậy. Đó là những loại cây mọc lên từ “nương ót” (nương bạc màu). Những thứ cây ấy là thành rừng lúp xúp, là quê hương của hổ báo.
[51, 18]
- Từ ngữ tiếng Tày đƣợc dùng để gọi tên một số phong tục tập quán của người Tày
Ngoài chức năng gọi tên, từ ngữ tiếng dân tộc đƣợc nhà văn Vi Hồng dùng để gọi tên một số phong tục hay cách nói năng của người Tày. Tuy không nhiều lắm nhƣng những từ ngữ này trong sáng tác của Vi Hồng cho thấy sự am hiểu về lời ăn tiếng nói cũng nhƣ phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Tày ở vùng đất Đông Bắc tổ quốc của tác giả. Với những từ ngữ tiếng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tày, nhà văn dễ tìm được sự đồng điệu, đồng cảm của độc giả người dân tộc thiểu số, bởi khi đọc tác phẩm của ông họ có thể thấy cuộc sống và phong tục của cha ông họ từ thuở sơ khai. Và cũng rất thú vị cho những ai muốn tìm hiểu nét đặc sắc trong văn hoá và phong tục của dân tộc Tày. Buổi lễ quan trọng nhƣ lễ đầy tháng cho đứa con đầu lòng đƣợc gọi là Ma nhét, hoặc trong lễ mừng thọ của người già có một nghi lễ gọi tên là Vần khẩu mỉnh. Nhìn chung, cách gọi tên bằng tiếng Tày và việc giải thích rõ các nghi lễ của người dân tộc quê hương, nhà văn đã bước đầu cho người đọc tiếp cận thêm với nghi lễ văn hoá của một dân tộc thiểu số. Xin dẫn ra một vài ví dụ dưới đây:
Ví dụ (28): Đôi bạn then thường đi hát mừng trong các buổi lễ, các thứ lễ vui vẻ nhƣ lễ mừng vào nhà mới, lễ ma nhét (lễ đầy tháng cho đứa con đầu lòng). Đây là những lễ cổ truyền, lễ nào cũng làm to, nghĩa là có thịt lợn, có vò rƣợu, có gánh xôi, có bánh giày,…
[50, 102]
Một ví dụ khác, dụ ví (29): Nghi lễ thứ hai là “vần khẩu mỉnh” (vận chuyển gạo số mệnh). Nghi lễ này phức tạp, trải qua nhiều công đoạn, có thể tóm tắt nhƣ sau:…
[49, 165]
Dưới đây cũng là một ví dụ cho thấy nhà văn Vi Hồng dùng từ tiếng Tày để chỉ một phong tục thường gặp ở khu vực miền núi phía Đông Bắc nước ta:
Ví dụ (30): Hoàng nghĩ nát óc, cuối cùng Hoàng cũng tìm ra đƣợc một phương án vô cùng tốt đẹp. Đó là Hoàng sẽ làm người “khai vài sân” (mừng trâu xuân). Đây là một phong tục chúc tết của người Tày.
[51, 285]
Tóm lại, có thể nói từ ngữ tiếng dân tộc đƣợc nhà văn Vi Hồng sử dụng khá nhiều và khá đa dạng. Chính những từ ngữ này đã làm nên nét riêng cũng nhƣ màu sắc miền núi trong văn của ông.