Giọng điệu dí dỏm hài hước

Một phần của tài liệu phong cách nghệ thuật Tô Hoài (Trang 71 - 80)

ĐẬM TÍNH KHẨU NGỮ

I. GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT DÍ DỎM, SUỒNG SÃ, TRỮ TÌNH

1. Giọng điệu dí dỏm hài hước

Người đầu tiên nhận diện sắc thái giọng điệu "trời phú” này của Tô Hoài là nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan. Theo ông, ngay từ những tác phẩm đầu tay, nhà văn này đã bộc lộ chất giọng riêng độc đáo: "Tập O chuột là tập truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài và cũng là một tác phẩm tiêu biểu cho lối văn đặc biệt của ông, một lối văn dí dỏm, tinh quái, đầy những phong vị và màu sắc của thôn quê, [40,529]. Nhất trí với phát hiện tinh tế ấy, chúng tôi nhận thấy, giọng điệu dí dỏm hài hước của Tô Hoài được thể hiện ở ba sắc thái chủ yếu: sắc thái dí dỏm hài hước, sắc thái dí dỏm xót xa và sắc thái dí dỏm phê phán. Đó chính là thái độ, tình cảm của nhà văn trước muôn mặt của cuộc sống đời thường. Thể hiện ba sắc thái giọng điệu này, Tô Hoài quả là một nhà văn đầy trách nhiệm và tâm huyết với cuộc sống và con người.

a. Sắc thái giọng điệu dí dỏm hài hước

Khác với tiếng cười trào phúng mang ý nghĩa phê phán những cái xấu xa, giả dối của xã hội phong kiến thực dân như Nguyễn Công Hoan, tiếng cười của Tô Hoài ở sắc thái giọng điệu này nhẹ nhàng, hóm hỉnh không nhằm bộc lộ thái độ mỉa mai hay phê phán. Tiếng cười ở đây toát lên từ những chuyện bất bình thường trong cuộc sống bình thường. Do vậy tiếng cười ở sắc thái giọng điệu này ít nhằm gửi gắm những tầng bậc ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Con mắt tinh nhạy và tấm lòng gắn bó thiết tha với cuộc sống đời thường, khiến ngòi bút của ông chuyển tải mọi chuyện vui - buồn, hay - dở trong cuộc sống sinh hoạt để cảm nhận "vẻ đẹp" tự nhiên đáng yêu của nó.

Trong gia tài đồ sộ của Tô Hoài, từ chuyện bà lão Móm giận con đi tự tử (Chớp bể mưa nguồn); chuyện ông Thái 70 tuổi bâng khuâng xúc động trước khi gặp lại người

xưa (Hoa bìm biển); chuyện ế chồng của cô Đối (Ra Kẻ Chợ)...; đến chuyện sợ vợ, ở bẩn của ông lý Chi (Quê người); chuyện phòng bệnh "tháo dạ" của Nguyên Hồng, chuyện "tình trai" của Xuân Diệu, chuyện "mê gái" của Nguyễn Bính (Cát bụi chân ai)... đều có sắc thái của giọng điệu này trên nhiều trang văn. Tiếng cười nhẹ nhàng được tạo bởi từ một mâu thuẫn khôi hài, một tâm trạng khác thường, một đức tính, thói tật riêng của nhân vật. Tất cả đều được thể hiện cụ thể qua hệ thống từ ngữ, cú pháp, nhịp điệu, ngữ điệu tài tình của câu văn Hãy lắng nghe nhà văn kể chuyện bà lão Móm (Chớp bể mưa nguồn) đi tự tử ở cái ao đầu làng:

"Chẳng biết có một điều gì bực dọc, bà Móm giận con trai và nàng dâu. Không giận vừa vừa, mà lại giận quá. Thế là cơn tức bừng bừng lên. Bà xắn hai mép váy, xăm xăm chạy ra ngoài ao giếng. Bà la vang cho bốn bên hàng xóm và cho vợ chồng thằng cả Mí biết rằng bà đương đi đâm đầu xuống ao đây. Không có ai ra can bà. Vậy bà nhảy phóc xuống ao thực. Đánh ùm một cái. Rồi bà bíu hai tay vào cái cọc cầu ao. Bà rúc đầu vào giữa bụi cây cúc tần mọc loà xoà xuống vệ nước. Mồm bà ngoác ra.

Không phải vì sặc nước. Không phải để hắt hơi. Bà ngoác mồm ra kêu thực to. Kêu như có nhà ai cháy ở trong xóm (...). Ai cũng tưởng bà lão chỉ kêu được vài câu thì chối cổ, phải lóp ngóp bò lên. Chẳng ngờ, họng bà lão khoẻ quá Bà lão vẫn kêu rầm rầm. Mãi sau, có người sốt ruột, xuống kẻo bà lão lên, đưa hộ về nhà. Bà lão liền lên ngay. Ở dưới nước một lúc đã thấy chán ?".

Tiếng cười được toát lên trước hết từ bản thân hình tượng nhân vật được miêu tả.

Hành động đi tự tử của bà lão Móm chứa đầy mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa mục đích và hành động của chủ thể. Từ hành động chạy ra ao và la làng - cất để cho "bốn bên hàng xóm và vợ chồng thằng cả Mí biết bà đương đi đâm đầu xuống ao đây"; hành động nhảy xuống ao - vì "không có ai ra can bà, vậy bà nhảy phốc xuống ao thực, đánh ùm một cái"; đến hành động lên bờ ngay của bà - vì có người xuống kéo bà lên... bà liền lên ngay", đều được diễn tả rất sinh động. Thể hiện mâu thuẫn ấy, tác giả kết hợp ngữ điệu diễu nhại khôi hài của câu văn, với hệ thống động từ mạnh đặc thù: "xắn" (hai mép váy), "xăm xăm chạy", "la vang", "nhảy phốc" (xuống ao), rồi "bĩu' (hai tay vào cọc), "rúc đầu" (vào giữa bụi cúc tần),... cuối cùng khi có người "xuống kéo", "lên ngay", tất cả nhằm diễn tả những hành động hết sức hài hước của chủ thể.

Trong muôn chuyện đời thường, cái nhìn tinh quái khiến Tô Hoài không bao giờ vơi cạn mạch nguồn sáng tác. Đây là chuyện tình khôi hài của ông Thái (Hoa bìm biển) khi gặp lại "người xưa": Từ khi nhận được tin, ông "tự thấy khác. Ông thấy ông vẫn sống, mà sống có lửa, ngọn lửa tình đương bừng bừng lên đây", làm ông trăn trở băn khoăn và nghĩ rằng: có lẽ nên đi làm mấy cái răng giả. Bởi răng hàm không còn cái nào. Thế rồi ông lại ái ngại. Ông đặt ra những "tình huống" đặc biệt - đi gặp lại

"người xưa", "thế nào ông chẳng phải hôn bà", rồi khi hôn nhỡ "cái răng giả rời ra, rơi vào họng ai thì sao? Lúc ấy chẳng nhẽ phải bảo hãy khoan để tháo răng ra đã?". Rõ ràng là chỉ có giọng điệu ấy, Tô Hoài mới hoàn toàn chủ động đưa vào trang sách những chuyện khôi hài như thế.

Còn chuyện ở bẩn và sợ vợ của ông lý Chi (Quê người) lại đặc biệt như thế này:

"Thường vợ lão vẫn túm râu lão, nhất vào buồng cầm phết trần đánh chơi luôn luôn, nên khi nghe ông lý Chi ở trong buồng tối, kêu ấm ứ và khóc hu hu chẳng ai ngạc nhiên mấy. Ông khóc rồi ông lại nói, ông có làm sao và có hề gì ai đâu. Còn cái đức ở bẩn của lão thì có lẽ do tính giời phú cho. Lão thường kể rằng từ vua Khai Định ra Hà Nội chơi đến giờ lão chỉ mới tắm có vài bận... Hơn mười năm nay lão chừa hẳn tắm...

Đôi khi ngồi nói chuyện với người ta, buồn tay lão gãi gãi vào người, thường xoe được những viên đất to bằng hạt ngô nếp. Lão có móng tay, gẩy tách đi một cái”. Vấn đề không phải từ những chi tiết rất "đời thường" ấy để nhà văn hạ thấp hay diễu cợt đối tượng, mà là bản thân cuộc sống muôn màu muôn vẻ được nhà văn cảm nhận trong sự tồn tại khách quan, tự nhiên để làm nên sự trọn vẹn của nó.

Từ chuyện người đến chuyện mình, chuyện của bản thân và chuyện của bạn bè đồng nghiệp, Tô Hoài đều thể hiện qua giọng điệu dí dỏm "trời phú” này. Làm sao viết về các nhà văn lớn của dân tộc lại có thể viết bằng cái giọng dí dỏm hài hước, nếu nói về sự nghiệp văn chương của họ. Dưới cảm hứng nhân văn đời thường, Tô Hoài đến với cuộc sống sinh hoạt, với những cá tính và thói tật riêng của mỗi người để khắc hoạ những con người bằng xương, bằng thịt, gần gũi và thân thiết với chúng ta. Nào là chuyện "tình trai" của Xuân Diệu, chuyện "mê gái" của Nguyễn Bính, chuyện "tháo dạ" của Nguyên Hồng,... và những nhếch nhác đời thường của chính nhà văn trong những năm tuổi thơ, những năm dò dẫm tìm việc làm... giọng điệu dí dỏm hài hước là phương tiện hữu hiệu mang lại hiệu quả nhất.

b. Sắc thái giọng điệu dí dỏm xót xa

Trước những mặt trái của cuộc sống đời thường, Tô Hoài không đao to búa lớn.

Nhà văn nhẹ nhàng với giọng điệu "trời" phú để tỏ rõ một thái độ, bộc lộ một nỗi lòng.

Cái nhìn tinh quái mà đượm chất nhân văn khiến Tô Hoài không thể làm ngơ trước những thói quen xấu hay những biểu hiện trái với đạo đức văn hoá truyền thống của dân tộc. Từ tục tảo hôn, tục đòi nợ vào ngày ba mươi Tết, tục cho vay nặng lãi, tục mê tín dị đoan chữa bệnh cho người ốm bằng cách cúng bái, tục bêu tếu nói xấu nhau...

đến những cảnh con cái tệ bạc với cha mẹ, vợ chồng tệ bạc với nhau, cháu chắt tệ bạc với ông bà... khiến nhà văn trăn trở suy nghĩ xót xa.

Mọi hủ tục lạc hậu ấu trĩ đều đi đến những kết cục đau xót cho con người. Nếu tục tảo hôn khiến không ít những cặp vợ chồng chịu cảnh bất hoà (vợ chồng "cái Ngói"

trong Vợ chồng trẻ con, vợ chồng "thằng Toản" trong Quê người, vợ chồng Thào Mỵ trong Thào Mỵ để đời mình...), thì hủ tục cho vay nặng lãi, cưới xin, ma chay, lệ làng, chữa bệnh... cũng làm bao gia đình điêu đứng (cuộc đời của Mỵ trong Vợ chồng A Phủ, cuộc sống của vợ chồng Ngây trong Quê người, cuộc đời của ông tổ họ Lê trong Quê nhà, cuộc đời của bác Hối trong Ông cúm bà co...), tất thảy đều được nhà văn quan tâm với niềm xót xa trăn trở. Trách nhiệm của một nhà văn chân chính vì con người, vì cuộc sống trong một cảm quan hiện thực đời thường đem đến dấu ấn riêng

cho ngòi bút Tô Hoài. Hãy xem bác Hối (Ông cúm bà co) chữa bệnh cho vợ trong cảnh nhà nghèo:

"Nhà nhắm mắt lại để tôi cúng cho (…)

Ông cúm bà co?

Ông ở xứ Nghệ, ông dò ra đây, Tín chủ tôi xin biếu món quà này,

Mắm tôm, kẹo bột, bỏng nắm, bánh dày, bánh đa, Ăn rồi xịn ông bước ra...".

Bệnh tình vợ bác làm sao thuyên giảm được. Và lẽ tất nhiên, người "mụ dần dần như cái que nứa tép. Một cái que nứa tép buộc vào mấy cái cành dong khô để làm chân tay và úp lên trên đầu một cái nồi đất. Mụ ngồi chống hai tay xuống giương, cái đầu lảo đảo như đầu bà đồng"... Trông cảnh người vợ đau đớn tiều tuỵ, bác Hối đứng lặng

"hai dòng nước mắt bò từ từ qua những gò má gồ ghề của một khuôn mặt già cấc méo mó, xám xịt". Cái chết thê thảm của "mụ Hối" khiến người đọc không thể không động lòng trắc ẩn. Tình thương của bác Hối không thể cứu nổi người vợ hiền. Những bài cúng kia có chăng chỉ để an ủi vong linh người đã khuất. Bởi bác Hối không thể làm gì hơn khi trong nhà bác không có lấy một xu nhỏ.

Viết dưới cảm hứng nhân văn đời thường, giọng điệu dí dỏm xót xa không chỉ đắc địa với hậu quả của những hủ tục lạc hậu làng quê mà còn thật hữu hiệu với những số phận xót xa cay đắng của con người. Đó là số phận của "mụ Hối" (Ông cúm bà co), của "cái Gái" (Nhà nghèo), của "cái Mái" (Nước mắt), của "bà lão Vối" (Mẹ già)... Từ xưa các cụ ta đã có câu "trẻ cậy cha, già cậy con", vậy mà bà lão Vối được "nhờ cậy"

con gái như thế này:

"Bà rón rén ngồi vào mép giương. Cái giát tre kêu cót két. Chị trưởng Xuân ngẩng đấu trông thấy mẹ, sa sả:

- Bà làm hại nó ! Bà giết nó đi ! Lợn cắn vào tay nó thế, mai nó làm ăn gì được.

Bà Vối chán quá. Làm sao mà nó cứ đổ cho bà làm hại chồng nó. Bà liền nói một câu. Cái câu bà đã nghĩ đi nghĩ lại từ chiều tới giờ.

- Tự dưng con lợn nó xổ, chứ tao có làm gì?

Nhưng con mụ quát lên:

- Lợn nó xổ? Lợn nó xổ? Thế tôi nuôi bà để làm gì mà bà lại không trông được con lợn?

Và mụ nói nhiều nữa. Bà lão nghe điếc cả tai. Bà nhắm mắt lại thiu thiu.

- Bà xuống bếp mà ngủ chứ! Bà vừa định giết nó mà bà lại ngủ giữa nhà nó thì sao

cho đang!

Bà lão Vối lồm cồm bò dậy đi ra, men xuống bếp ngay. Bà nằm vào đống rơm.

Tuy hơi nóng một chút, nhưng xa được tiếng nhe nhé của mụ trưởng Xuân. Bà nghe lơ mơ như ai cãi nhau đâu bên hàng xóm!

Sáng hôm sau, hai vợ chồng anh trưởng Xuân và thằng Hạ ngồi ăn cơm, không đả động gì đến bà Vối. Bà lão vẫn ngồi nguyên trong ổ dạ, nhìn chăm chăm lên trên nhà.

Để nghe xem vợ chồng nó có gọi mình? Gọi thì bà lên ngay. Có bao giờ bà biết khọng khạnh đâu? Nhưng bà đã thấy lách cách tiếng bát mà không có nghe qua một tiếng gọi.

Bà bần thần nhìn mấy ông đồ rau đen xì, bà thở dài".

Đoạn văn xuất hiện bốn loại lời với những kiểu câu và giọng điệu khác nhau: lời người kể chuyện chủ yếu được hiện diện qua kiểu câu tường thuật, với giọng điệu trung tính; lời nửa trực tiếp diễn đạt ý nghĩ, nỗi lòng bà lão Vối với sắc điệu xót xa đau đón; lời nhân vật bà lão Vối hiện diện qua câu hỏi tu từ luôn thể hiện thái độ ôn tồn, nhũn nhặn, hoà giải; còn lời của nhân vật chị trưởng Xuân lại được hiện diện qua nhiều kiểu câu đa dạng với nhiều sắc thái giọng điệu. Ở đây, câu cảm thán và câu hỏi tu từ được sử dụng đậm đặc nhằm bộc lộ thái độ vừa đay nghiến trì triết, vừa dóng dả tàn nhẫn, vừa trách móc mỉa mai... trước những "tội lỗi" mà bà mẹ đẻ đã gây ra cho chồng chị! Hầu như cả đoạn văn, lời của chị trưởng Xuân không mang sắc thái trung hoà hay tích cực. Sắc thái giọng điệu lời chị trưởng Xuân như một nhát dao cứa vào lòng người mẹ già đáng thương, tội nghiệp. Có lẽ không thể tìm nổi một lời lẽ nào để biện hộ cho sự bạc bẽo đến mất hết tình người của chị. Tuy không bộc lộ trực tiếp bằng lời, nhưng người đọc vẫn cảm nhận rõ thái độ xót xa tận đáy lòng của tác giả được tình cảnh bà lão Vối bất hạnh. Ngòi bút đầy chất nhân văn khiến Tô Hoài không né đánh một sự thật tàn nhẫn nào trong cuộc sống sinh hoạt đời thường, để coi đó là một bài học cảnh tỉnh con người trong cách đối nhân xử thế.

Như vậy, nỗi niềm xót xa trăn trở nhiều hơn cả của Tô Hoài là sự xuống cấp về đạo đức của con người. Trước những cảnh ngang tai trái mắt, trước sự đảo lộn trong quy luật của đạo đức tình cảm, nhà văn không thể thờ ơ hay bỏ mặc. Mỗi người có lương tâm đều không thể không suy nghĩ khi con cái ngược đãi cha mẹ, vợ chồng coi thường chửi bới lẫn nhau, con cháu quá hỗn láo với ông bà... Người đọc không thể không xót xa trước cảnh chị trưởng Xuân "sa sả" mắng nhiếc bà lão Vối - người mẹ đẻ, cảnh "thằng trưởng" Khiếu "'phết" lại ông Nhiêu Thục - cha đẻ của mình; kỹ sư Trần Hùng điềm nhiên cho các cụ "vào Nam... quy tiên cả", khi họ vẫn ngày đêm ngóng đợi tin anh ở quê nhà... Và đau đớn hơn có lẽ là cảnh hai đứa cháu (Ông cháu) đối xử quá tàn nhẫn với người ông mù loà tội nghiệp:

"- Giả người ta hai xu?

(…)

- Thôi đừng có vờ vẫn!

(…)

- ông lấy của chúng tôi hai xu rồi.

(…)

- Đấy đấy ! Vờ vịt khéo không. Thôi đừng làm điệu nữa. ông giả tôi hai xu đi.

(…)

Hoà sừng sộ và buộc tội:

- Hai xu tôi để trong hóc cột. Tôi chẳng đánh rơi ở đâu hết. Chính ông lấy của tôi.

Tôi biết.

(…)

- Tôi biết ông lấy của tôi. Ông lấy để chốc nữa ông mua bánh đúc mua bỏng ông ăn. Tôi biết cả rồi".

Thái độ hai đứa cháu nội của ông lão Mo mù loà là không thể tha thứ. Chỉ vì mất hai xu mà chúng mỉa mai, coi thường, ngang nhiên buộc tội người ông và suy diễn đủ điều trái với đạo đức lương tâm của con người. Mặc dù vừa điếc, vừa loà, ông lão vẫn cảm nhận được thái độ của chúng nhưng cũng đành bất lực ngồi "thưỡn mặt ra" chán ngán đau khổ...

Giọng điệu dí dỏm trong sáng tác của Tô Hoài trước mặt trái đời thường không chỉ là sắc thái xót xa mà nhà văn còn dùng tiếng cười nhẹ nhàng để bộc lộ thái độ ở cấp độ sâu sắc hơn - cấp độ phê phán.

c. Sắc thái giọng điệu dí dỏm phê phán

Nếu đối tượng phê phán đả kích của Nguyễn Công Hoan là thế giới nhân vật quan trường; của Vũ Trọng Phụng là lũ người dốt nát, văn minh rởm... thì Tô Hoài nhằm vào tất cả những thói hư tật xấu, những suy thoái biến chất của con người bình thường trong cuộc sống xã hội đời thường. Nhìn chung đối tượng phê phán của Tô Hoài là tất cả những gì xa lạ với con người theo quan điểm đạo đức văn hoá truyền thống. Vậy nên ông không hề đao to búa lớn, không phủ nhận tất cả, hoặc lật tẩy không thương tiếc đối tượng... Tô Hoài lấy giọng diệu nhẹ nhàng dí dỏm khi thì mát mẻ, khi lại mỉa mai làm phương tiện cho sự phê phán.

Trước cảnh mợ Phán (Bóng đè) - "con dâu ngoan" của ông bà trưởng Luỹ bị bệnh bóng đè - cứ "vào quãng nửa đêm là lại thấy ngực nặng trình trịnh như đeo đá, chân tay nhược ra, muốn cựa cũng không cựa được, mồm cứng quai hàm không kêu được", khiến ông bà trưởng Luỹ lo lắng lắm. Ông bà làm đủ mọi cách để cứu chữa cho mợ - sai con sen quét sạch gian buồng; bảo con dâu làm vô thiên số thuật - "thuật Mường, thuật Mắn, thuật Tàu, lại cả thuật Nhật Bản trừ bóng đè, mà không khỏi". Rồi bà đích thân đi xem bói, "tức tốc đi sắm sửa đồ vàng mã, mua chuối, mua hoa, đóng oản, thổi xôi, giết gà rồi thiết lập đàn tràng giữa sân cúng cheng cheng suốt đêm". Cũng chỉ yên

Một phần của tài liệu phong cách nghệ thuật Tô Hoài (Trang 71 - 80)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)