THẾ GIỚI NHÂN VẬT ĐA DẠNG, BÌNH DỊ
II. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
2. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động nhân vật
Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài là thế giới nhân vật động. Mọi giá trị của nhân vật hầu hết được hiện diện qua hành động, lời nói, cử chỉ. Chính vì thế, miêu tả ngoại hình và hành động nhân vật là một trong những thủ pháp xây dựng nhân vật của Tô Hoài.
a. Lựa chọn chi tiết tiêu biểu, cụ thể, chính xác
Tô Hoài có một khả năng quan sát rất đặc biệt, khả năng ấy giúp nhà văn quan sát cặn kẽ đến mức bật ra được nét đặc sắc của đối tượng, rồi từ đó, lựa chọn từng chi tiết cụ thể, chính xác. Đây là thế mạnh trong nghệ thuật xây dưng nhân vật của tác giả.
Tác phẩm đầu tay có ý nghĩa đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác và phong cách nghệ thuật Tô Hoài là Dế Mèn phiêu lưu ký. Sức hấp dẫn của tác phẩm bắt đầu từ thế giới nhân vật gây được ấn tượng, sâu sắc, khó quên. Để tạo dựng thế giới ấy, nhà văn đã tập trung bút lực miêu tả nhân vật, từ ngoại hình, đến cử chỉ, hành động. Trong đó nhân vật Dế Mèn được nhà văn dành nhiều tâm huyết hơn cả. Khắc hoạ nhân vật này,
Tô Hoài lựa chọn cách miêu tả động. Hãy thưởng thức đoạn văn miêu tả đặc sắc sau:
"Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng Dế thanh niên cường tráng. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở kheo cứ cứng dần và nhọn hoắt.
Thỉnh thoảng, muốn thử sức lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ (...). Đôi cánh tôi trước kia ngắn hủn hoẳn, bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Đầu tôi to và nổi lửng tảng, rất bướng. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai nhoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng (...). Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.
Đoạn văn miêu tả hình ảnh chú Dế Mèn trong những ngày đầu chú mới được mẹ cho ra ở riêng. Khắc hoạ vẻ đẹp ngoại hình một chú Dế khoẻ mạnh, cường tráng mà tính tình lại hung hăng, hống hách, tác giả đã lựa chọn chi tiết miêu tả rất đắc địa.
Trước tiên là những bộ phận thuộc ngoại hình: đôi càng, cái vuốt, đôi cánh, cái đầu, hai cái răng, sợi râu. Mỗi bộ phận có một vẻ đẹp riêng, toát lên từ sức mạnh của cơ bắp:
- Đôi càng: mẫm bóng
- Những cái vuốt: cứng dần và nhọn hoạt - Đôi cánh: dài - đạp phành phạch
- Đầu: to và nổi từng mảng
- Hai cái răng: đen nhánh - nhai nhoàm ngoạn - Sợi râu: dài và uốn cong
Ở đây nhà văn miêu tả từ hai phương diện:
Thứ nhất là miêu tả ngoại hình, mỗi bộ phận được miêu tả với một nét đặc sắc riêng. Nét đặc sác ấy được diễn tả qua một loạt các tính từ giàu tính tạo hình: mẫm bóng, cứng dần, nhọn hoắt, to, đen nhánh vừa mang tính khu biệt, vừa nhấn mạnh đặc điểm của từng bộ phận.
Thứ hai là miêu tả hành động nhân vật, tác giả lựa chọn những động từ mạnh: đạp phành phạch, nhai nhoàm ngoạp, diễn tả hành động mạnh, dứt khoát chứng tỏ sức mạnh phi thường của đối tượng. Đoạn văn ngắn gọn, súc tích mà đủ tiêu chí để người đọc dễ dàng cảm nhận một chú Dế Mèn bằng xương, bằng thịt - khoẻ mạnh, cường tráng, thích khoe mẽ, thích ra oai trước "mọi người".
Mỗi nhân vật trong Dế mèn phiêu lưu ký lại có một dáng vẻ riêng. Mỗi dáng vẻ thể hiện một tính cách, phẩm chất khác nhau. Nếu Dế Mèn khoẻ mạnh, cường tráng, thì
Dế Choắt lại gầy gò, yếu đuối đầy vẻ khiêm tốn và thật đáng thương:
"Dế Choắt người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện. Đã thanh niên rồi mà cánh ngắn cũn đến giữa lưng, hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo di lê. Đôi càng bè bè, nặng nề, trông đến xấu. Râu ria gì mà cụt có một mẩu, và mặt mũi thì lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ".
Dưới con mắt của Dế Mèn, từ hình dáng - gầy gò và dài lêu nghêu, đôi cánh -ngắn cũn, đôi càng - bè bè, bộ râu - cụt có một mẩu, đến vẻ mặt - ngẩn ngẩn ngơ ngơ, Dế Choắt hiện lên thật thảm hại. Miêu tả diện mạo Dế Choắt, tác giả vừa khéo léo lựa chọn những chi tiết rất tiêu biểu, vừa kết hợp với giọng điệu giàu sắc thái biểu cảm của
"người kể chuyện" - giọng điệu mỉa mai, chê bai, khinh thường kẻ yếu. Giọng điệu này cùng một lúc vừa là rõ thái độ trịch thượng, kiêu căng, tự phụ của Dế Mèn, vừa hiện lên vẻ gầy gò yếu đuối đáng thương của Dế Choắt. Lựa chọn giọng điệu này, "người kể chuyện" phải giữ một khoảng cách nhất định đủ để "nhìn ngắm" và "soi mói" đối tượng. Sự kết hợp hài hoà giữa những chi tiết miêu tả với giọng điệu giàu sắc thái biểu cảm, khiến hình ảnh nhân vật không những được hiện diện rất cụ thể, sinh động mà còn tỏ rõ tính cách "người kể chuyện".
Còn chị Nhà Trò "đã bé nhỏ lại gầy gò, yếu đuối quá, người bự những phấn, như mới lột. Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ chấm vàng, hai cánh cô nàng mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn", khiến Mèn phải động lòng trắc ẩn. Ở đây, thay bằng giọng điệu chê bai của "người kể chuyện" là giọng điệu thương cảm, xót xa, bởi tính cách của Mèn đã thay đổi - Mèn biết "lo lắng", "chăm sóc" cho "người" khác, biết
"bênh vực", "che chở" cho kẻ yếu.
Trong sáng tác về loài vật của Tô Hoài, mỗi nhân vật một lính cách, một thói tật, từ Dế Mèn (Dế mèn phiêu lưu ký), Bọ Ngựa (Võ sỹ Bọ Ngựa), Chuột Nhắt (Đám cưới chuột), đến Ri Đá (Đôi Ri Đá) gã Chuột Bạch (Vợ chồng chuột bạch), Trê (Trê và Cóc)... Có những nhân vật, chỉ qua vài nét đặc tả hình dáng, cử chỉ, điệu bộ, tính cách nhân vật đã hiện lên rất rõ nét.
Đó là hình ảnh võ sỹ Bọ Ngựa (Võ sỹ Bọ Ngựa):
"Chú đi chững chạc từng bước trên bãi cỏ. Mỗi khi nhắc chân lên, chú lại giơ hai càng ra đằng trước. Làm điệu múa mênh, gạt đỡ cái gì cản trở vướng víu. Ra lối ta đây con nhà võ nghệ. Cái mặt chú nghênh lên vênh vác, đưa sang bên nọ, đưa sang bên kia, để kèm có ai ở xung quanh nhìn thấy mình đương đi bằng một dáng oai hùng nhất thiên hạ không?".
Là hình ảnh "tân khoa Chuột Nhắt" (Đám cưới chuột) trong ngày "vinh quy bái tổ":
"Ở trong kiệu, chú tân khoa Chuột Nhắt ngồi chỗm choẹ. Cái điệu chú oai ghê.
Đầu chú đội chiếc mũ xanh, có hai cánh chuồn. Mình chú mặc áo thụng lam. Chú ngồi vắt chân chữ ngũ. Một tay cầm cái quạt tàu phe phảy. Một tay cầm điếu thuốc lá quấn.
Chốc chốc, lại đưa lên miệng, hút phập phèo. Đôi mắt chú lúng liếng liếc sang hai bên
đường, ra vẻ ta đây. Mà hai bên đường thì chật ních những họ hàng nhà chuột đứng xem".
Chỉ một vài nét đặc tả hành động, cử chỉ, nhân vật dưới ngòi bút Tô Hoài hiện diện đầy cá tính, ở đó, mỗi chi tiết đều được chọn lọc như một tiêu chí mang tính khu biệt.
Thế giới nhân vật của Tô Hoài thường ít được xây dựng thành hai tuyến mang tính đối kháng. Điều mà tác giả quan tâm là cái thiện, cái ác; cái tốt, cái xấu; cái hay, cái dở hiện diện trong cuộc sống và tiềm ẩn trong mỗi nhân vật để từ đó làm nên sự hấp dẫn, thú vị của cuộc sống. Vì thế, tác giả thường đặt nhân vật trong môi trường lao động, sinh hoạt để lựa chọn chi tiết miêu tả phù hợp và chính xác.
Lão lái Khế (Khách nợ) nắm quyền sinh quyền sát với các con nợ, bởi ngày ba mươi Tết năm nào lão cũng được đi đòi nợ thuê trong làng. Vốn là một người nông dân nghèo, nhưng giờ đây lợi dụng "quyền hành", hắn đã không từ một thủ đoạn nào để kiếm chác trên nỗi khổ đau của mỗi con nợ. Miêu tả chân dung lái Khế với việc làm như thế, tác giả tập trung vào từng "trang phục". Mỗi khi đi đòi nợ, "đầu lão bịt một vành khăn tai chó, tai khăn vểnh như đôi tai trâu (...). Lái Khế mặc một tấm áo nâu dài dày cộp chó cắn có thể gãy răng được. Ngang lưng cuốn một vòng thắt lưng điều cũ, rách xơ xác. Tay lão ta xách một cây hèo tua mấy sợi tơ đỏ".
Mỗi thứ trang phục, vừa phù hợp với cái nghề bất lương mà hắn đang thừa hành, vừa ẩn chứa sự nhếch nhác đến thảm hại, từ tấm áo nâu - chó cắn có thể gãy răng, đến thắt lưng điều - đã cũ lại rách xơ xác. Ấn tượng hơn cả là cây hèo lua tua mấy sợi tơ đỏ chẳng khác một thằng hề. Thằng hề mà chủ sai đâu phải làm đấy, bảo gì phải nghe đấy. Chính nó đã biến lái Khế từ một người nông dân lương thiện trở thành kẻ bất lương. Cái nghề bạc bẽo khiến hắn trở nên vô cảm trước cuộc đời, trước sự khổ đau của con người. Thế nên dù có nhận ra gia đình Hương Cay "đến con chó còn đói sùi bọt mép thế kia", mà hắn vẫn không tha, bình thản lấy đi bát hương và bài vị tổ tiên trong ngày ba mươi Tết. Sáng tạo nên hình ảnh lái Khế với những hành động như thế, Tô Hoài đã góp vào kho tàng văn học hiện thực phê phán Việt Nam một chân dung con người tha hoá. Dù trước đó Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đã thể hiện loại nhân vật này rất sâu sắc, nhưng con người tha hoá của Tô Hoài vẫn không kém đi ý nghĩa xã hội trong một phong cách riêng nhẹ nhàng mà thấm thía.
Lịch sử xã hội Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Dù cuộc sống có khó khăn gian khổ đến đâu, con người Việt Nam trong mọi hoàn cảnh cũng quyết giành độc lập tự do.
Đọc tiểu thuyết Nỏ thần, người đọc không quên hình ảnh cố Trọng, đô Lỗ, đô Nồi, những tướng lĩnh tài giỏi, anh minh của vua Thục. Khi nước nhà có giặc ngoại xâm, họ là những trụ cột không thể thiếu của triều đình. Khắc hoạ những vị tướng tài ba, anh minh này, nhà văn đã dành trọn những từ đẹp nhất, với những tình cảm tôn kính ngưỡng mộ nhất:
Đây là hình ảnh Cố Trọng, "một cụ già quặc thước. Tóc râu và lông mày bạc trắng. Cố cao lớn khác hẳn mọi người, đến độ trông không phải người thật. Cố cởi trần, da mồi đỏ hắt. Hai hàm răng đen nhức, vẫn chưa rụng chiếc nào. Con mắt cố sáng ngời, hầu như ai nhìn, gặp ánh mắt cố, tự nhiên đã phải vòng tay, ý tứ vào khuôn phép".
Và đây là hình ảnh đô Lỗ "mình cao chín thước, búi tóc ngược, diện mạo cương nghị. Tấm áo chồi điều buộc dải gió bay lồng lộng". Đó là những hình ảnh đẹp nhất trong tác phẩm, bởi những ngày cùng vua chủ xây thành, chế nỏ đánh giặc ngoại xâm giữ vững bờ cõi là những ngày ý nghĩa nhất trong cuộc đời họ.
Vẻ đẹp cường tráng của con người không chỉ cần thiết trong cuộc đấu tranh giữ nước mà trong cả cuộc sống xây dựng đất nước, chinh phục thiên nhiên. Xây dựng nhân vật An Tiêm (Đảo hoang) với sức mạnh của ý chí và nghị lực phi thường giành giật lấy cuộc sống, nhà văn đã gửi gắm niềm tin yêu trọn vẹn cho nhân vật của mình.
Sức mạnh và lòng trung thực thẳng thắn của An Tiêm được hiện diện ngay từ vẻ đẹp khoẻ khoắn ở ngoại hình: "An Tiêm thân lẳn mình trắm, đôi mày dựng ngược, con mắt sắc. Nước da đỏ mịn như đồng hun. Một trang quắc thước hiên ngang lạ lùng".
Xây dựng thế giới nhân vật, Tô Hoài rất có sở trường miêu tả ngoại hình và hành động. Với khả năng quan sát đặc biệt thông minh, tinh tế năng lực lựa chọn chi tiết, hình ảnh tiêu biểu, cụ thể, chính xác cùng nghệ thuật sử dụng từ ngữ điêu luyện, nhân vật của Tô Hoài đem lại vẻ tự nhiên, tạo ấn tượng gần gũi trong lòng độc giả.
b. Sử dụng nghệ thuật so sánh
Bước đầu thống kê câu văn sử dụng nghệ thuật so sánh khi miêu tả một số nhân vật trong một số tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài, chúng tôi thấy (xem bảng 2.2):
Bảnh 2.2:
Tên nhân
vật
Tên tác
phẩm vế được so sánh
Từ So sánh
vế so sánh Dế Mèn Dế Mèn
phiêu lưu ký
- Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai nhoàm ngoạn
như hai lưỡi liềm máy làm việc.
Dế Choắt
Dế Mèn phiêu lưu ký
- Người gày gò và dài lêu nghêu
- Cánh chỉ ngắn của đến giữa lưng, hở cả mạng sườn
như
như
một gã nghiện thuốc phiện.
người cởi trần mặc áo gi lê
Xiến.
Tóc
Dế Mèn phiêu lưu ký
- Răng nó - Cái vuốt chân - Chân xiến tóc cứng
như như như
sắt dao
cây tre đực Nhà Trò Dế Mèn
phiêu lưu ký
Hai cánh cô nàng mỏng như Cánh bướm non
Cua Núi Dế Mèn phiêu lưu ký
- Bốn bác Cua Núi đen sì - Những anh Cua Núi mắt lồi đen kịt
như như
Cái xe bọc sắt to kềnh cái tàu bò
Chuồn Chuồn Kim
Dế Mèn phiêu lưu ký
- Anh Kỉm kìm kim bấy lẩy bẩy
- Cái đuôi - Đôi mắt lồi to
như
bằng hơn
mẹ đẻ thiếu tháng.
chiếc tăm dài nghêu.
đầu Cá
Chuối
Dế Mèn phiêu lưu ký
- Răng nhe trắng như lưỡi cưa
Bọ Muỗm
Dế Mèn phiêu lưu ký
- Đôi mắt to hó như mắt cá
Châu Chấu voi
Dế Mèn phiêu lưu ký
- Hai chiếc râu trổ ra dữ - Đôi càng đã to, to - Cạnh bắp vế còn lắp chi chít những mũi mác nhọn
như hơn như
hai cái đinh càng tôi chông
Kiến Chúa
Dế Mèn phiêu lưu ký
- Cái đầu đỏ bóng - Dưới đuôi, đeo thanh kiếm nhọn sáng
như như
gỗ gụ cây kim
Lái Khế Khách nợ - Lái khế béo tròn - Đầu lão bịt một vành khăn tai chó, hai tai khăn vểnh
như như
quả mít đôi tai trâu
Chàng Chử
Nhà Chử - Cho người cao to, vạm vỡ, đứng
- Khuôn mặt rạng rỡ, cười nói
- Mặt Chữ sáng
- Chử đã lên hẳn bờ,cao to bằng
như
như như
đầu cây cọ đương tuổi
hoa nở
sao băng
con Gấu đứng hai chân
Thào Mỹ
Miền Tây - Mặt Mỵ trắng hồng nét tròn
như quả lê non
Pàng Miền Tây - Mình Xạm nhợt nhạt như ngâm dưới suối lên con
trưởng thôn Pàng
Miền Tây - Hai chân xạm đen thõng xuống
- Bé vẫn rườn rượt héo nghẹo
như
như
hai cái dải khoai
cây thuốc phiện đứt rễ
Miêu tả một số nhân vật tiêu biểu trên, chúng tôi thấy Tô Hoài sử dụng nghệ thuật so sánh theo các mô hình:
- A như B có 25 câu, chiếm tỷ lệ 86,2%
- A bằng B có 2 câu, chiếm tỷ lệ 6,9%
- A hơn B có 2 câu, chiếm tỷ lệ 6,9%
So với cấu trúc truyền thống, cấu trúc so sánh của Tô Hoài có nhiều nét tương đồng.
Thứ nhất là, cấu trúc so sánh với từ "như" trong văn học dân gian xuất hiện khá đậm đặc.
Ví dụ:
- Thân em như dải lụa đào Phất phơ trước gió biết vào tay ai
- Thân em như giọt mưa sa Hạt rơi giếng nước, hạt ra ruộng cày
- Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới rạng, như đèn mới khêu...
Thứ hai là, trong cấu trúc truyền thống vế B thường là cụ thể, đó là những hình ảnh, sự vật quanh ta.
Dù có những nét tương đồng, nhưng ở Tô Hoài sử dụng nghệ thuật so sánh khi xây dựng nhân vật có những sáng tạo riêng. Trong so sánh truyền thống, nếu vế A thường là trừu tượng, vế B thường là cụ thể, thì ở Tô Hoài, nhà văn luôn tạo lập quan hệ giữa hai vế so sánh là quan hệ giữa cái cụ thể với cái cụ thể. Từ những bộ phận thuộc ngoại hình nhân vật như: khuôn mặt, đầu, mắt, răng, chân, tay,... đến thân hình, nước da,...
đều được so sánh với các sự vật, sự việc hình ảnh vốn rất quen thuộc và bình dị hằng ngày như: sắt dao, đinh, cây tre, quả lê, quả mít, cây thuốc phiện đứt rễ... Sở dĩ có được những hình ảnh so sánh gần gũi và quen thuộc như thế là bởi, Tô Hoài có năng lực quan sát rất tinh vi và sắc sảo trong trường nhìn cuộc sống đời thường. Dù ở góc độ nào, nhà văn cũng tìm dấn những hình ảnh quen thuộc và gần gũi. Những hình ảnh