THẾ GIỚI NHÂN VẬT ĐA DẠNG, BÌNH DỊ
II. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
1. Đặt nhân vật trong môi trường sinh hoạt, lao động đời thường
Khác với Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Anh Đức, Phan Tứ..., thế giới nhân vật tích cực của Tô Hoài hầu như ít được đặt trong môi trường phi thường để khẳng định mọi giá trị của bản thân mang tính lý tưởng. Chính vì thế, người đọc ít thấy nhân vật của Tô Hoài thể hiện phẩm chất, sức mạnh, vẻ đẹp hoàn hảo như Núp, Tnú, chị Thắm, chị út Tịch, Việt, chị Tư Hậu, chị Sứ, Mẫn, Thiêm... Người ta thường thấy, nhà văn đặt nhân vật vào những môi trường sinh hoạt và lao động có những mối quan hệ đa dạng,
phong phú. Dưới cảm quan của Tô Hoài, con người không phải là thánh nhân, mà là con người trần thế, con người trần tục. Do vậy, môi trường sinh hoạt đời thường là nơi
"lý tưởng" nhất để nhân vật vừa bộc lộ những phẩm chất quý báu, vừa tự nhiên thể hiện những cá tính, thói tật mà thẳm sâu trong mỗi con người không ai là không có.
Đặt trong môi trường như thế để nhân vật không hiện diện xuôi chiều, chứng tỏ bản lĩnh cứng cỏi, trách nhiệm của nhà văn trước con người và cuộc sống.
Như đã trình bày, Tô Hoài không đi theo chiều hướng lý tưởng hoá nhân vật, cũng không dùng ngòi bút của mình để khuếch đại vùng tối trong tâm hồn, tính cách của nhân vật. Nhà văn vừa trân trọng phẩm chất cao quý thiêng liêng của con người lao động Việt Nam trong cuộc sống còn không ít khó khăn gian khổ, vừa không ngần ngại với những thói tật trong mỗi con người để làm nên cuộc sống đầy hương sắc. Xây dựng thế giới nhân vật theo quan niệm riêng như thế, Tô Hoài đã nhẫn nại tìm tòi, phát hiện muôn cảnh đời thường để nhân vật tự bộc lộ. Môi trường ấy có những cảnh "sinh hoạt và quan hệ họ mạc, xóm giềng, gia đình trong sự sống hằng ngày" (Phong Lê).
Người đọc không khỏi xót xa trước cảnh Nhà nghèo của vợ chồng anh Duyện. Họ lại thường cãi nhau vì những cớ rất nhỏ. Những lúc như thế, mọi phẩm chất và thói tật của anh bộc lộ rất tự nhiên. Trong lúc nóng nảy, lại nghe chị vợ bù lu bù loa kể lể nỉ non, điếc móc đủ điều, khiến anh không thể giữ được bình tĩnh. Trước mặt lũ trẻ, anh gọi vợ là "con què" và những đứa con của mình là "những của nợ", rồi tự xưng mình là
"ông":
"- Ông chửi cha con què đấy".
"- Ông giết chết cả lũ! Ông giết chết cả lũ chúng mày rồi ông đâm cổ ông sau.
Những của nợ kia, Ông nhất quyết sửa chúng mày trước rồi đến con mẹ chúng mày".
Chửi vợ quát con thậm chí còn đánh đập, doạ nạt chúng, nhưng thẳm sâu trong lòng, anh lại là người cha rất mực yêu con. Chứng kiến cảnh đứa con gái đầu lòng bị rắn độc cắn chết, anh bàng hoàng, đau đớn, xót xa. Lúc này anh chỉ còn biết ghé vai, xốc con lên, hai hàng nước mắt rỏ ròng ròng. Đây là nét tính cách của người nông dân mà không phải người đọc chỉ được gặp một lần trên trang sách Tô Hoài. Chúng ta chẳng đã gặp anh Thoại (Quê người); anh cả Nhiệm (Một người đi xa về); anh Hối (Buổi chiều ở trong nhà)... đó sao! Họ đều là những người nông dân chăm chỉ, chất phác, thương vợ, quý con, nhưng tính tình lại rất nóng nảy và khó tự kìm chế bản thân.
Anh Thoại cũng chỉ vì bức bách trong cảnh nghèo túng, năm hết Tết đến, nợ không đòi được, vợ lại đay nghiến, cực chẳng đã anh mới đối xử vũ phu với vợ. Anh cả Nhiệm đã bị chính người vợ yêu động đến lòng tự ái và nỗi đau nghèo hèn của mình nên anh không sao chịu nổi. Anh Hối bị người vợ làm náo động thiên cung. Chị ta ngồi xoạc hai chân ra kể lể bao nhiêu những điều gì không phải từ năm ngoái năm kia. Thế là, anh Hối cũng tức quá không thể kìm nén được cơn giận dữ... Rõ ràng, trong mọi hành động đáng chê trách của người chồng, không thể không kể đến "lỗi" của người vợ. Từ chị Duyên, chị Bướm đến cô Pha, chị Hối... họ đều có chung một thói tật lắm điều. Bất
kể sáng, trưa, chiều, tối họ đều có thể kể lể con cà, con kê, diếc móc đủ điều. Từ chuyện cỏn con - anh Hối bán chai đựng dầu mua kẹo bột, thế là chị "lồng" lên tru tréo - "Ối trời đất ơi! Hại tôi rồi! Làm hại tôi rồi. Có cái chai để đựng dầu mà cũng bán tào bán huyệt của tôi"; đến chuyện đòi nợ không được, anh Thoại dường như đã hối hận thế mà chị vợ cứ nhai nhải, ray rứt mãi:
" Thôi chết tôi rồi...Anh làm hại mẹ con tôi. Anh làm hại mẹ con tôi.
- Ối giời đất ơi! Người ta làm hại mẹ con tôi"...
Trước cách mạng, nhà văn đặt nhân vật trong môi trường sinh hoạt và quan hệ đời thường để nhân vật bộc lộ mọi phẩm chất, thói tật, có lẽ rõ nhất là ở tiểu thuyết Quê người, bởi đây là thể loại "có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn",
"có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời... tái hiện nhiều tính cách đa dạng" [46, 222]. Ở cuốn tiểu thuyết này, người đọc gặp biết bao cảnh sinh hoạt làng quê, bao mối quan hệ thế sự - từ cảnh túm năm tụm ba những giờ ra cửi, cảnh hội hè đình đám,...
đến chuyện bêu xấu nhiếc móc nhau, đánh nhau, ăn cắp, ngoại tình...; từ mối quan hệ cha con, vợ chồng, anh em, đến mối quan hệ thông gia, bạn bè, hàng xóm... khiến thế giới nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này hiện diện thật muôn màu muôn vẻ. Cô Ngây chăm chỉ, thuỷ chung, có hiếu với cha mẹ nhưng cũng không từ những thủ đoạn nham hiểm. Anh Thoại chịu thương chịu khó lại cũng rất nóng tính và liều lĩnh. Cô Bướm bất chấp cảnh nghèo giữ trọn tình với người yêu nhưng cũng thật ngoa ngoắt và lắm điều. Bà Ba thương anh, thương cháu nhưng cái "tài" chửi rao của bà thì có một không hai..., và ông Nhiêu Thục, được đặt trong những hoàn cảnh éo le nhọc nhằn: ông một mình gà trống nuôi con nên lúc nào cũng thu vén, chăm chỉ. Bất hạnh thay, người con trai cả của ông - "thằng trưởng Khiếu là đứa mất dạy". Nó giở say, say trong lúc tỉnh để nói hỗn với bố. Lúc bực mình, "ông Nhiêu vác cái đòn ống đuổi đánh nó. Khiếu lại tức mình, giằng lấy đòn ống phết ông Nhiêu một trận nên thân". Rồi lẻn ăn cắp của ông ba cái mâm đồng, một cái nồi đồng, một cái chậu thau ra làm nhà ở riêng không ở với bố nữa. Từ đấy bố con gặp nhau cũng chẳng ai hỏi ai. Bao nhiêu tình thương và niềm hy vọng ông dành cho con trai út - thằng Toàn. Vậy mà thằng Toàn lấy vợ ốm đau quặt quẹo, làm cô đồng rồi hoá rồ hoá dại. Đứa con gái hay lam hay làm lại bị bêu xấu trên tờ cáo bạch, khiến ông đau đớn uất giận. Số phận quá đỗi nhọc nhằn, bất lực trước hoàn cảnh, ống chỉ còn biết ôm mặt khóc rưng rức. Ông khóc như mưa, như gió.
"Bởi vì đời ông còn có những chi? Bởi vì đời ông ngán quá! Ngán quá!". Đặt trong nhiều tình cảnh như thế, nhân vật của Tô Hoài hiện diện vừa đa chiều, vừa sinh động.
Người đọc làm sao không bùi ngùi trước cảnh "ế chồng" của cô Đối (Ra Kẻ Chợ).
Cô "ngồi trong bùn từ năm mười lăm", mà "vẫn chưa thấy bờ ao đụng nước". Cô đành đi xem bói, rồi "quay về với thánh" để "thánh sẽ phù hộ cho"... Cuối cùng cô Đối cũng đi lấy chồng - cô lấy một ông goá vợ, "thôi vớ được ai cũng hãy còn và may. Thế là yên bề gia thất rồi". Thế mà vì thói sĩ diện thường tình, mà mấy năm sau, bà Đối xuýt xoa than thở với bạn, ra chiều mình kém khôn ngoan đã để tuột khỏi cơ hội đổi đời:
"Ngày năm nao, cũng có một người Kẻ Chợ về suýt lấy tôi đấy. Hồi ấy, mình lại sợ lấy chồng xa. Bây giờ mới khốn khổ thế này chứ. Người ta biết nhìn xa thì khá lắm rồi.
Dại thực"! !.
Chuyện tình của cô Mây (Vàng phai), cô Miến (Giăng thề), họ nhanh chóng quên đi mối tình quê chân thành và quá đỗi mộc mạc, để mơ tưởng cảnh phồn hoa nơi Kẻ Chợ. Cô Mây làm sao không thao thức bởi "những lời ân ái du dương và cái hôn ấm áp... của bác quyền Vực giỏi trai và lịch sự mốt mới". Cô Miến choáng ngợp trước cảnh ăn trắng mặc trơn nơi Kẻ Chợ, để rồi nghĩ đến mối tình với anh giáo Câu nghèo như một cơn gió thoảng. Gặp lại người xưa Miến thoáng nhìn qua. Rồi Miến lại bình thản, không chào và đi tự nhiên. Chuyện tình biết bao cung bậc vui - buồn. Khi yêu người ta cùng thề non lấp bể, nhiều lúc lại nghĩ đến cả việc đi tu, quyên sinh cho trọn tình, trọn kiếp. Thế rồi họ cũng nhanh chóng để phận ai lo người ấy. Người đọc ngỡ ngàng trước thái độ dứt khoát, thẳng thắn của cô Lụa (Lụa) - "Lạy ông, cháu sang để thưa với ông rằng cái số cháu không được về hầu hạ cửa ông cửa bà thì xin ông bà đừng cho miếng giàu miếng cau làm gì". "Cháu xin đưa gửi lại ông bà số tiền giàu rượu chạm ngõ hôm qua". Bởi Lụa đã yêu Nguyên, Lụa đã thực lòng hết với Nguyên.
Vậy mà chỉ vì đi so tuổi đôi bên không hợp, để "tháng chạp năm ấy, cô Lụa lấy chồng người bên làng Phú Gia. Sang tháng hai, Nguyên cũng lấy vợ, người xóm dưới cùng làng. Không ai nghĩ tính chuyện đi đâu. Vào Sài Gòn, đường xa lăng lắc. Đi tu phải cạo đầu trọc mà cũng khổ lắm. Những lời quả quyết kia cả hai cùng đã quên" rồi.
Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau năm 1975, dù viết về đề tài miền núi hay tiếp tục viết về đề tài Hà Nội, dù viết truyện ngắn hay hồi ký, nhìn từ góc độ phong cách, Tô Hoài vẫn nhất quán trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của mình. Môi trường sinh hoạt và quan hệ đời thường vẫn là nơi để nhà văn tìm thấy cái phi thường trong mỗi con người từ cái bình thường của cuộc sống.
Đồng chí Hùng Vương (Đồng chí HùngVương) tính tình trầm lặng, lại rất tự tin và tuyệt đối phục tùng tổ chức. Khi được giao nhiệm vụ về châu ngay, Hùng Vương còn dặn con đổ nết thóc ra sân phơi. Rồi lấy cái xắc cất quàng vào vai bên trái. Con dao găm cắm trong bao da đeo sườn bên phải bước xuống thang đi lên châu. Trong mọi hoàn cảnh, Hùng Vương đều bình tĩnh lạ lùng. Được đoàn thể đổi lên công tác ở Ngân Sơn - nơi rừng thun, núi đá, đồi trọc san sát đang bị Pháp tàn phá dữ dội, Hùng Vương vẫn điềm tĩnh: dạy các con học hát, bừa ruộng buổi sáng rồi mới đi...
Cô Ính (Mường Giơn) vừa hồn nhiên tinh nghịch, vừa cứng cỏi lại giàu lòng nhân ái. Khắc hoạ tính cách nhân vật này, Tô Hoài đặt nhân vật vào môi trường sinh hoạt vừa giàu chất hiện thực, vừa đượm chất thơ của đời sống. Những ngày yên vui, Mường Gian sống trong cảnh thanh bình, Sạ đi săn nai, săn con sơn dương, Mát, Ính bắt hiu hiu, nòng nọc, xa xa đám trẻ nhặt rau, tiếng đùa giỡn vọng lại. Ở đó, mỗi người cảm nhận một niềm vui riêng. Sạ, Mát vui sướng vì lúc đi rừng, đi ruộng mới được nhìn nhau thoả thích. Ính vui vì được nghe anh kể chuyện, được trêu đùa anh chị: "Đương
lúi húi với thêm mẻ hiu nữa, ngẩng lên thấp thoáng bóng áo trắng của chị Mát vào rừng, Ính tinh nghịch chạy theo. Mát và Sạ không biết, rẽ vào bên một tảng đá lớn ven lối. Nhanh như sóc leo, anh trèo tót lên một cây hoa lai. Rồi Ính nghển đầu nhòm xuống... cười khanh khách". Đi rừng với chị, Ính thường "bắt trộm" hai người đứng vụng với nhau như thế. Cô gái hồn nhiên tinh nghịch ấy lại rất cứng cỏi đầy bản lĩnh.
Thể hiện nét tính cách này, nhà văn đặt nhân vật vào những môi trường sinh hoạt gia đình và làng bản. Chứng kiến cảnh chị Mát bị giặc bắt, cảnh bố tuổi già sức yếu vẫn bị bắt đi phu, cảnh chị Yên bị giặc làm nhục,... trong lòng Ính trào lên nỗi căm hờn. Cô khát khao "có cán bộ về bảo làm việc giỏi", rồi cô tự động làm binh vận, kéo Bản trở về con đường làm ăn lương thiện. Cô bất chấp hủ tục, bất chấp lời mỉa mai của hai mụ vợ lính, vác cày ra đồng cày ruộng, bởi trong lòng cô rất thương bố, thương em. Nhìn em người gầy guộc sớm phải lo công việc, Ính nghĩ: "không trâu thì bò cũng làm được, chẳng sợ ai cười. Khi tản cư ra Mường Lùng các chị em ngoài tự do làm ruộng như đàn ông, chẳng thiếu việc gì". Thế là đêm ấy, chị em Ính ra đồng bừa suốt đêm, vừa sáng thì đem giả trâu. Hơn thế, Ính còn là một cô gái chủ động với tình yêu, hạnh phúc của mình. Nghe bố nói: "bản mường yên rồi tao cho mày làm vợ thằng Sạ. Tao không bắt nó ở rể, tao không lấy tiền lấy thóc của nó đâu. Ính lặng lẽ không nói. Thẳm sâu lòng mình, hình ảnh Sạ đã in đậm trong trái tim cô. Gặp Sạ, Ính mới thổ lộ: "Bây giờ con trai Thái không phải ở rể khổ, thì đừng bắt chước người Mèo đi cướp vợ. Anh lấy được em mà chẳng phải đi cướp chẳng phải làm con thần quái đại bàng đâu".
Đặt nhân vật trong môi trường sinh hoạt và quan hệ đời thường không thể không kể đến thể loại hồi ký của Tô Hoài. Đây là thể loại in đậm phong cách nghệ thuật nhà văn. Ở đó từng nhân vật - từ nhân vật Tôi đến Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Nguyễn Sáng... được đặt trong môi trường sinh hoạt và các quan hệ gia đình, bạn bè đồng nghiệp để mọi phẩm chất, tính cách nhân vật bộc lộ tự nhiên.
b. Môi trường lao động trực tiếp
Viết trên cảm hứng sử thi, các nhà văn thường đặt nhân vật trong những tình huống thử thách. Ở đó có những biến cố và hoàn cảnh đặc biệt để khẳng định phẩm chất định sẵn và bất biến của nhân vật như chị Tư Hậu (Một chuyện chép Ở bệnh viện - Bùi Đức Ái), chị Thắm (Đất Quảng - Nguyễn Trung Thành), chị Sứ (Hòn đất - Anh Đức), Tám Nhớ, út Hảo, Chín Kiên (Rừng U Minh)... Viết trên cảm hứng nhân văn đời thường, Tô Hoài thường đặt nhân vật trong những môi trường sinh hoạt và lao động, gắn liền với tổng nghề nghiệp ở từng vùng, từng miền khác nhau.
Miền quê nuôi dưỡng tâm hồn và gắn bó suốt cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài là miền quê làm nghề dệt lĩnh. Thế giới nhân vật trong từng trang sách của ông cũng bắt đầu từ làng nghề truyền thống ấy. Người đọc làm sao quên được hình ảnh những anh thợ cửi, những chị thợ tơ suốt một đời gắn bó với từng bước thăng trầm của làng nghề trong Nhà nghèo, Quê người, Mười năm, Người ven thành, Quê nhà... Chính môi trường lao động đặc thù ấy tạo nên phẩm chất và tính cách của họ.
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Quê người hoàn toàn làm nghề thủ công. Trong thế giới nhân vật ấy, từ già đến trẻ, từ gái đến trai, mọi người đều chăm chỉ làm ăn và có ý thức thu vén gây dựng cơ ngơi. Ông Nhượng thuở trẻ hàn vi, vậy nên lúc nào ông cũng "hàn gắn" gia đình, "ông hàn gắn đến nỗi, mỗi khi ông ra ngõ, thấy có sợi tơ vương ở bụi cúc tần, ông cũng vội chạy ngay về nhà, lấy cái lồng ra quay sợi tơ vào ống". Chắt chiu nhặt nhạnh thu vén là thế, nhưng ông không phải là người "chỉ bo bo tích của làm giàu". Ông luôn có trách nhiệm với người thân và khi cần lại là người rất hào phóng. Anh ruột mất, ông quan tâm đến chị, đến cháu. Khi Hời (cháu ruột ông) xây dựng gia đình. Ông lo lắng mối lái, bàn bạc công việc và mừng cho cháu mười đồng làm vốn... Trong cuốn tiểu thuyết này, lớp thanh niên làng nghề được nhà văn quan tâm hơn cả Ngây, Hời, Thoại, Bướm mỗi người mỗi hoàn cảnh: Ngay mẹ mất sớm; Hời mồ côi cha từ khi ba tuổi, mẹ già mù loà; Thoại cha mẹ đều đã về nơi chín suối, một mình ăn nhờ ở đậu dệt mướn nuôi thân; Bướm sinh ra trong cảnh nghèo túng ở làng Giá, số phận đưa cô về làng Nha tự bươn trải..., tất cả đều là những chàng trai, cô gái thuần phác, khéo tay, hay làm, "ngồi chơi không một máy cũng đã hót xa thì giờ". Khi xây dựng hạnh phúc, từng đôi vợ chồng trẻ càng lo lắng thu vén cho cái tiểu gia đình của mình. Hời - Ngây mua lại được một khung cửi cũ, từ đấy "Hời dệt ngày, Hời dệt đêm, rất chịu khó chăm chỉ ăn cơm xong, chàng vào khung cửi. Hễ có việc phải đi đâu, anh chàng cung cúc để về cho chóng. Dễ đến hàng phiên chợ, anh không bước ra tới đầu xóm". Còn Thoại - Bướm vẫn trầy trật đêm hôm, hai vợ chồng vẫn chỉ đi làm mướn kiếm ăn. Sau cách mạng, dù bị áp lực của thời đại, nhưng xét trên góc độ phong cách, viết về đề tài nào, Tô Hoài cũng vẫn nhất quán trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của mình. Trong tiểu thuyết Mười năm, nhân vật tạo nên sự chú ý cho độc giả là những con người tham gia hoạt động cách mạng nhưng không thoát ly khỏi cuộc sống lao động. Họ là những thanh niên lòng đầy nhiệt huyết vừa hăng say hoạt động đoàn thể, vừa tích cực lao động tìm kế sinh nhai - "ban ngày dệt cửi, tối mới tụ tập nhau lại bàn công việc ái hữu". Lạp là tay thợ dệt giỏi, "đã dệt khéo lại khoẻ, nhanh.
Ngày làm mười, mười hai thước cửi ngon, bước ra khung, mặt trời còn đứng ngọn tre... nên bà lão Đôi khó tính thế mà cũng chiều như chiều vong". Lê được thừa hưởng đôi bàn tay khéo léo nhất làng thợ dệt từ cha mẹ. Những ngày hoạt động cách mạng, anh đặt ra "chương trình hành động" cho chính mình: "l- Dệt cửi đều để có tiền tiêu, còn tối ngày phiên thì học chữ anh Chúc. 2- Tối nào cũng lên trụ sở ái hữu bàn công việc. 3- Tối nào cũng đọc sách, không được buồn ngủ. 4- Phiên này mua tập giấy để học, tập viết chữ cho đẹp cho đúng và tập viết văn, làm thơ. Trong suốt chiều dài của cuốn tiểu thuyết này, nhân vật đều gắn liền với tiếng khung cửi lách cách, tiếng thoi chạy đều đều. Thậm chí mọi niềm vui, nỗi buồn và mơ ước của nhân vật cũng mang đậm dấu ấn nghề nghiệp. Nhàn trong giây phút tuyệt vọng nhất vẫn hy vọng gặp lại người yêu và xây dựng hạnh phúc: "Vợ chồng sẽ lên một khung cửi. Ngày phiên đi chợ, xách về một xâu lòng bò. Chẳng mấy chốc đã sinh con, sinh con gái đầu lòng nó sẽ giúp mẹ được sớm, chỉ mới ít tuổi đã sai được trăm thứ việc...".