43. Ý nghĩa của luận văn
1.23. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
1.32.2. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam
Ngày 14 tháng 4 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 151-TTg quy định tạm thời về trưng dụng ruộng đất. Quy định như sau:
- Về việc bồi thường thiệt hại do lấy đất gây nên: Về đất thì bồi thường từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng dụng.
- Đối với hoa màu thì được bồi thường đúng mức.
- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc và các công trình phục vụ sinh hoạt được giúp đỡ xây dựng cái khác.
- Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình cụ thể về phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ một số tiền làm phí tổn di chuyển.
Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định 151 là đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960.
Việc bồi thường theo những nguyên tắc trên được thực hiện cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời.
1.23.2.2. Thời kỳ từ 1987 đến năm 1993
Luật đất đai năm 1998 ban hành quy định về bồi thường cũng cơ bản dựa trên những quy định tại Hiến pháp 1980.
Ngày 31/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về việc bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử
dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường. Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất. Mỗi hạng đất tại mỗi vị trí đều quy định giá tối đa, tối thiểu. UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức.
1.23.2.3. Thời kỳ từ 1993 đến nay a. Luật đất đai năm 1993
Đây là văn bản pháp luật quan trọng đối với việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất.
Ngày 17/8/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/NĐ-CP quy định cụ thể các chính sách làm cơ sở để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Nghị định này mang tính toàn diện cao và cụ thể hóa việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất.
Ngày 24/4/1998, Chính phủ ban hành nghị định số 22/1998/NĐ-CP thay thế Nghị định 90/NĐ-CP và quy định rõ phạm vi, đối tượng áp dụng. Đặc biệt, người bị thu hồi đất có quyền lựa chọn một trong ba phương án bồi thường: bằng tiền, bằng nhà ở hoặc bằng đất.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai Nghị định 22/1998/NĐ-CP có những hạn chế nhất định. Nó chưa đáp ứng hết được yêu cầu thực tế, chưa phù hợp với thực tiễn và gây phát sinh ra nhiều khiếu kiện cho Nhà nước. Đặc biệt, chưa giải quyết được những tồn tại do yếu tố lịch sử để lại khi thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại cho chủ sử dụng đất có tài sản, nhà cửa nằm trên đất không đủ điều kiện được bồi thường.
b. Luật đất đai năm 2003
Những đổi mới trong chính sách pháp luật về đất đai hơn 10 năm đã đưa đến một kết quả tích cực, thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển, hệ thống hạ tầng được xây dựng tạo những tiền đề quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước.
Tuy nhiên, đánh giá dưới góc độ kinh tế, tiềm năng đất đai chưa được sử dụng một
cách có hiệu quả, tình trạng đầu cơ đất đai diễn ra phổ biến, đẩy giá đất lên cao, cản trở quá trình đầu tư phát triển. Trước tình hình đó, việc đổi mới chính sách quản lý đất đai là rất cần thiết. Ủy ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết về việc xây dựng Luật đất đai và giao nhiệm vụ này cho Bộ Tài nguyên và Môi trường trực tiếp soạn thảo. Tại kỳ họp thứ tư Quốc hội Khóa XI đã thông qua Luật đất đai 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2004. Luật vẫn dựa trên nền tảng đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Luật đất đai 2003 có nhiều nội dung mới trong đó có vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như: khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi.
Bên cạnh đó, Nhà nước ban hành nhiều văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư nhằm cụ thể hóa các điều luật về bồi thường, thu hồi đất, về giá đất đã góp phần giải quyết công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư một cách có hiệu quả hơn.
c. Luật đất đai năm 2013
Sau 10 năm thực hiện, Luật đất đai 2003 đã bộc lộ một số mặt hạn chế như:
chưa có cơ chế bắt buộc để bảo đảm có quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất; chất lượng các khu tái định cư được xây dựng cũng chưa đáp ứng yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; chưa chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi,…
Do đó Luật đất đai 2013 ra đời nhằm cố gắng khắc phục khó khăn, giải quyết những vướng mắc, bất cập, phục vụ tốt hơn công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Luật đã dành 21 Điều (từ Điều 74 đến Điều 94) để quy định về nhiều vấn đề, như:
quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế - xã hội; bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế - xã hội; bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo… Đặc biệt, Luật đất đai 2013 đã dành một điều quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các trường hợp đặc biệt. Hiện nay, Luật đất đai 2013 đang được thực thi đã có những đóng góp đáng kể trong việc cải thiện tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở nước ta.