2.1. Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, 20 năm Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước Đông - Nam Á (ASEAN), 15 năm thực hiện Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và 9 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)…kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực và đạt được những thành quả to lớn.
Điểm nổi bật của kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường đã được xác lập và ngày càng hoàn thiện. Việt Nam hiện có quan hệ thương mại và đầu tư với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Điều đáng mừng là Việt Nam đã thoát ra khỏi nhóm nước nghèo và gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình…
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu vô cùng to lớn và làm thay đổi hoàn toàn hình ảnh Việt Nam trong vòng 3 thập kỷ trở lại đây, kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ nhiều khó khăn, nhiều bất cập cần nhanh chóng xử lý như: tốc độ tăng GDP thấp; tỷ lệ đầu tư giảm; nợ nước ngoài tăng nhanh, khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam thấp…
Để có cái nhìn toàn diện nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần lùi lại thời gian để nhìn lại kinh tế Việt Nam từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 - thời điểm mà nền kinh tế Việt Nam bắt đầu đi xuống do ảnh hưởng khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu. Nếu tính từ thời điểm này, nền kinh tế Việt Nam sẽ được khái quát qua 02 giai đoạn đặc trưng cơ bản: giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013 và giai đoạn từ năm 2014 đến nay.
2.1.1. Giai đoạn 2008 - 2013 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Tăng GDP (%) 5,66 5,4 6,42 6,24 5,25 5,42 CPI (%) 19,89 6,52 11,75 18,58 9,21 6,04 Đầu tư (% GDP) 43,1 42,8 41,9 36,4 33,5 30,4 Bội chi NSNN (%GDP) 4,60 6,90 5,60 4,90 4,80 5,30 Cán cân TM -18 -12,8 -12,6 -9,8 0,748 0,10 Nợ công (%GDP) 56,5 54,9 55,7 56
Nguồn: Kỷ yếudiễn đàn kinh tế mùa thu 2014
Nhận xét:
Bất ổn vĩ mô kéo dài, lạm phát cao, tăng trưởng suy giảm, số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng; nợ công tăng nhanh, từ mức 36,2% GDP năm 2008 đã lên đến 56% GDP năm 2013. Theo đồng hồ nợ công toàn cầu của Tạp chí The Economic công bố ngày 20/8/2014 thì hiện nay bình quân mỗi
người dân Việt Nam phải gánh 99 USD nợ công.Có thể nói kinh tế Việt Nam
năm 2013 đã chạm đáy.
Nguyên nhân
- Cơ cấu kinh tế lạc hậu:
+ Công nghiệp chủ yếu là gia công, hàm lượng nội địa và giá trị gia tăng thấp.
+ Nông nghiệp vẫn là nền sản xuất nhỏ phân tán manh mún, năng suất lao động và giá trị gia tăng trên 1 ha đất thấp. Tiềm năng giải phóng của khoán hộ và kinh tế hộ đang dần vơi cạn.
+ Cơ cấu các thành phần kinh tế bất ổn , không phát huy được tiềm
năng của khu vực tư nhân.
+ Quan điểm kinh tế nhà nước là chủ đạo dẫn đến sự gia tăng tính độc quyền của doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Mặc dù số lượng DNNN đã giảm mạnh từ 12.000 doanh nghiê ̣p đầu
những năm 90 của thế kỷ trước xuống còn khoảng hơn 1.000 doanh nghiê ̣p hiện nay (giảm khoảng 12 lần về số DN) nhưng việc hình thành các tập đoàn kinh tế Nhà nước , nhiều tổng công ty Nhà nước với nhiều công ty con , cháu, thậm chí cả công ty chắt được ôm trong lòng nó đã làm cho tỷ trọng của
DNNN trong GDP vẫn ở mức rất cao, chiếm đến 32%; tỷ trọng dư nợ tín dụng và nợ xấu của DNNN còn cao hơn.
- Mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào sự gia tăng các yếu tố đầu vào và khai thác tài nguyên để xuất khẩu; năng suất lao động thấp; đóng góp của nhân tố tổng năng suất vào tăng trưởng bị tụt giảm.
Theo khảo sát của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 2013 thì năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng ¼ của Thái Lan, 1/5 của Malaysia, 1/10 Hàn Quốc, 1/15 Singapore.
Nhân tố tổng năng suất đóng góp vào tăng trưởng ngày càng giảm: Theo Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam năm 2013, tăng trưởng TFP đạt khoảng 3,4%, giảm xuống 0% năm 2009 và 1,8% năm 2010, tiếp tục xuống dưới 1% năm 2012.
Chính tăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào làm tăng tổng cầu trong khi mô hình tăng trưởng kém hiệu quả không tạo ra nhiều nguồn cung mới, gây ra mất cân đối cung - cầu phải nhập siêu lớn là nguyên nhân gây ra lạm phát và bất ổn vĩ mô những năm qua.
- Những nguyên nhân từ điều hành kinh tế: Phản ứng chính sách ở một số thời điểm không hợp lý, làm phức tạp thêm tình hình và khoét sâu những yếu kém về cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng.