Tái cơ cấu là một xu thế khách quan và tất yếu

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại việt nam thực trạng và giải pháp (Trang 63 - 73)

Trong hơn 2 thập kỷ hình thành và phát triển, hệ thống NHTM cũng có nhiều lần “tái cấu trúc” theo theo từng thời điểm và phù hợp với từng hệ

thống văn bản pháp luật tương ứng.Nếu tính từ khi Pháp lệnh Ngân hàng,

hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ra đời vào ngày 23 tháng 5 năm 1990 thì hệ thống NHTM đã trải qua 4 giai đoạn đồng thời cũng là 4 lần thay đổi và phù hợp với 1 Pháp lệnh và 3 Luật về các tổ chức tín dụng kế tiếp nhau. Có thể gọi đó là 4 lần “tái cấu trúc”, cụ thể:

Lần thứ nhất, từ 23/5/1990 đến 30/9/1998, giai đoạn này Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được Hội đồng Nhà nước ban hành và có hiệu lực. Pháp lệnh đã thay thế Nghị định 53/NĐ ngày 26/3/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và một lần nữa tạo điều kiện cho hệ thống NHTM thay đổi mạnh mẽ về số lượng và chất lượng. Đặc điểm chính của giai đoạn này là nhiều ngân hàng TMCP (có vốn hoặc không có vốn của nhà nước), nhiều văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, nhiều ngân hàng liên doanh, nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài…đã được thành lập và từng bước chiếm lĩnh thị trường…

Sự thay đổi này thích ứng với việc chuyển đổi từng bước nền kinh tế từ hành chính - bao cấp sang cơ chế thị trường. Giai đoạn này cũng chứng kiến sự thu hẹp của khối doanh nghiệp nhà nước (từ 12.000 xuống còn khoảng 4.000- 5.000 doanh nghiệp) và ra đời nhiều doanh nghiệp mà chúng ta còn gọi là

ngoài quốc doanh (bao gồm Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty liên doanh…).

Lần thứ hai, giai đoạn từ 1/10/1998 đến 30/9/2004, đây là giai đoạn thực hiện Luật Các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX ngày 12/12/1997. Thời gian này hoạt động của các NHTM được Luật hóa với rất nhiều qui định mới chưa có trong Pháp lệnh ngân hàng năm 1990. Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 được xây dựng gồm 11 chương và 131 điều (Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 chỉ có 8 chương và 51 điều) với nhiều qui định cụ thể về thuật ngữ, về các loại hình tổ chức tín dụng, về vai trò quản lý của NHNN…Điều này chứng tỏ luật năm 1997 đã kế thừa nhiều ưu điểm của Pháp lệnh năm 1990 và tính đến thực tế hoạt động của hệ thống NHTM từ năm 1990 đến năm 1997. Có thể nói giai đoạn 1995 -1997 cũng là thời điểm khó khăn của hoạt động ngân hàng, những ai đã làm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng thời điểm này sẽ hiểu hơn cả. Rất nhiều vấn đề trong hệ thống NHTM đã được bộc lộ như nợ xấu, vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệ, thất thoát…liên tục xảy ra. Nhiều NHTM cổ phần có nguy cơ “sập tiệm”, bị đưa vào diện “kiểm soát đặc biệt” và một số bị sát nhập ở giai đoạn sau này. Ở tầm vĩ mô, Chính phủ đã phải cử đồng chí Phó thủ tướng thường trực kiêm Thống đốc NHNN để thực hiện “tái cơ cấu” lại hệ thống NHTM.

Lần thứ ba,từ 1/10/2004 đến 31/12/2010. Giai đoạn này hệ thống NHTM phát triển mạnh nhất cả về số lượng và qui mô hoạt động. Các NHTM hoạt động có tính “chuyên nghiệp” hơn tất cả các giai đoạn trước kia. Yếu tố nước ngoài trong hoạt của các NHTM được thể hiện rõ nhất, đa số các NHTM (trừ ngân hàng 100% vốn nhà nước) đều có sự tham gia của đối tác là ngân hàng hay tổ chức tài chính nước ngoài trong Ban điều hành hay Hội đồng quản trị.

Trên cơ sở Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và được sửa đổi năm 2004, các ngân hàng (kể cả ngân hàng 100% vốn nhà nước) đều được “tái cấu trúc” lại theo hướng “chuẩn” (hội đồng quản trị, ban giám đốc, chi nhánh và phòng giao dịch…) hơn và hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Giai đoạn này có thể gọi là thời kỳ “vàng son” của hệ thống ngân hàng. Phát triển nhanh, lợi nhận cao là 2 đặc điểm chủ yếu của hệ thống ngân hàng thời điểm này.

Có NHTM chỉ trong vòng 3 năm đã tăng gấp 10 lần vốn điều lệ và có vốn hóa trên thị trường chứng khoán cỡ vài tỷ USD. Giai đoạn này cũng ghi nhận sự “vắng bóng” của các ngân hàng nông thôn khi 13 ngân hàng đã được chuyển đổi thành ngân hàng đô thị. Giai đoạn này cũng chứng kiến sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức tài chính nước ngoài vào hoạt động của hệ thống ngân hàng TMCP và sự “bùng nổ” số lượng NHTM tham gia thị trường chứng khoán.

Lần thứ tư, từ 1/1/2011 đến nay. Sau giai đoạn “cực thịnh” là giai đoạn “suy thoái và khủng khoảng” và điều này hoàn toàn đúng với hệ thống NHTM hiện nay. Sự phát triển nhanh về số lượng (nhưng không tương xứng về chất lượng) các NHTM trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và Việt Nam có nhiều khó khăn đã đặt hệ thống NHTM vào tình thế “đặc biệt” theo nghĩa

không tích cực.Đã xuất hiện sự “rối loạn” trong hoạt động của một số NHTM

khi “hết tiền” khi khó huy động tiền ở cả khu vực 1 và khu vực 2.

Giai đoạn này chứng kiến nhiều tình huống mà trước kia không một ai có thể lường tới, đó là lãi suất huy động vượt quá 20%/năm; lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có lúc vượt quá 40%; nợ xấu vào khoảng 3,1% (có thể còn cao hơn) và điều nguy hiểm hơn khi trên thị trường liên ngân hàng cũng “dính” vào nợ xấu, ngân hàng cũng nợ lẫn nhau và nợ khó đòi…

Những diễn biến xấu này đòi hỏi tái cấu trúc lại hệ thống NHTM hiện nay là vô cùng cần thiết và vô cùng “cấp bách” nếu không muốn tình hình vượt khỏi tầm “kiểm soát”.

Quan sát sự phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam trong hơn 20 năm qua nhận thấy từ 5 - 7 năm lại xuất hiện một chu kỳ mới và theo đó là một lần tái cơ cấu. Với 4 giai đoạn phát triển nêu trên đã khẳng định, việc tái cấu trúc hệ thống NHTM là việc làm thường xuyên và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế cũng như thực trạng của hệ thống NHTM trong từng thời kỳ.

Nhìn ra thế giới, việc tái cấu trúc ngân hàng cũng là xu thế khi nước Mỹ ban hành luật cải cách tài chính mà chúng ta thường gọi là luật Cải cách phố Wall vào năm 2010 hay Châu Âu cũng phải kiểm tra lại “sức khỏe” các ngân hàng sau khi “bão” nợ công bùng phát.

Do vậy việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng cũng là quy luật khách quan, tất yếu và không bất thường sau khi có Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và những biến đổi nhanh chóng, không thuận lợi của nền kinh tế cũng như trong nội tại hệ thống NHTM Việt Nam. Vừa qua, Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã trả lời tại kỳ họp thứ 3 khóa XIII rằng: “Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng phải coi là việc làm bình thường. Trong suốt 20 năm đổi mới qua, hệ thống ngân hàng đã đạt nhiều thành công, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Nhưng khi đã đạt được mức độ phát triển nhất định thì sẽ có nhiều hậu quả. Vì vậy, phải có đổi mới để thích nghi với nhu cầu mới. Đây là nhu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế”.

Trong những trường hợp nào của một quốc gia sẽ tiến hành tái cơ cấu hệ thống NHTM:

- Khi hệ thống NHTM phát sinh những vấn đề bất ổn và có nguy cơ đẩy hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng kéo dài, kéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế - xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống. Có những dấu hiệu cho thấy hệ thống NHTM bất ổn trầm trọng cần phải thực hiện tái cấu trúc. Khủng hoảng kinh tế kéo dài, môi trường kinh doanh của ngân hàng xấu đi nghiêm trọng dẫn đến các mặt hoạt động của ngân hàng kém hiệu quả, nợ xấu gia tăng, tỷ lệ an toàn vốn giảm sút làm cho hệ thống ngân hàng có nguy cơ mất thanh khoản, rủi ro vỡ nợ ngày càng lớn, hệ thống ngân hàng suy yếu đe dọa sự bất ổn của nền kinh tế của quốc gia. Khi khuôn khổ giám sát và quản lý yếu kém.

- Khi nền kinh tế phát triển sẽ đòi hỏi hệ thống NHTM phải thay đổi để thích ứng, đảm bảo các hoạt động của nền kinh tế có hiệu quả. Mục tiêu của tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nhằm hồi sinh hệ thống NHTM yếu kém và duy trì sự phát triển ổn định, hiệu quả của hệ thống NHTM.

* Lý do để Việt nam cần phải tái cơ cấu hệ thống NHTM

Những năm qua hệ thống NHTM trong nước đã có những bước phát triển đáng kể cả về quy mô tài sản, mạng lưới giao dịch, sản phẩm dịch vụ, cũng như hệ thống công nghệ ngân hàng. Hệ thống các NHTM Việt Nam được chia làm 2 nhóm dựa vào quan hệ sở hữu: một là, các NHTM do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn; hai là, nhóm các NHTM cổ phần. Hệ thống các NHTM Việt Nam phát triển nhanh về số lượng và nguồn vốn sở hữu sau khi đổi mới, nhất là từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Chính sự phát triển nhanh về mặt số lượng, cho đến nay hệ thống các NHTM đã có mạng lưới bao phủ đến tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, đặc biệt có NHTM đã xây dựng hệ thống các chi nhánh bao phủ đến tận huyện, thậm chí là tới các xã, liên xã; mạng lưới của hệ thống NHTM trải rộng khắp đến các

vùng, miền của đất nước, qua đó ngày càng đáp ứng nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước, đã góp phần rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.

Bên cạnh đó, dưới áp lực tăng vốn điều lệ nhằm đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như đáp ứng yêu cầu theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ thì đến năm 2010, vốn điều lệ tối thiểu của các NHTM phải đạt 3.000 tỷ VND. Đến nay, các ngân hàng đã thực hiện xong quy định vốn pháp định tối thiểu, trong đó một số ngân hàng còn có số vốn điều lệ khá cao như: VCB, BIDV, Viettinbank, Agribank, ACB..., các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng dần tăng quy mô vốn điều lệ để đảm bảo hoạt động từ trên 15 triệu USD.

Dư nợ cho vay tăng nhanh trong những năm vừa qua. Trên thực tế, hệ thống NHTM Việt Nam đã và đang đóng vai trò chi phối thị phần tín dụng (86,47% toàn hệ thống), đây là nguồn vốn đáng kể góp phần cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước, cũng như góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định trật tự xã hội.

Chính sách quản lý ngoại hối từng bước được tự do hóa. Việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối đã được tiến hành theo hướng đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền quản lý nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các địa phương, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân thực hiện các giao dịch ngoại hối, từ đó giúp NHNN có điều kiện tập trung nghiên cứu cơ chế, chính sách theo mô hình ngân hàng trung ương hiện đại. Bên cạnh đó, NHNN đã xóa bỏ nhiều loại giấy phép theo hướng phù hợp dần với yêu cầu hội nhập quốc tế, từng bước đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính, tạo ra sự thông thoáng hơn cho hoạt động kinh tế đối ngoại.

được thể hiện rất rõ là nếu như trước đây, trong khâu thanh toán phải mất thời gian từ 1 ngày đến hàng tuần mới thực hiện hoàn chỉnh một giao dịch thanh toán, thì ngày nay nhờ có đổi mới công nghệ, thời gian thanh toán đã được rút ngắn chỉ được tính bằng phút, thậm chí bằng giây. Hơn thế nữa, nhờ có đổi mới công nghệ mà hệ thống ngân hàng thương mại đã đưa ra được rất nhiều các sản phẩm dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, chẳng hạn như: dịch vụ như ATM, POS, EDC, internet banking, telephone banking, ngân hàng trực tuyến...từ đó đã góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, cũng như góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển.

Bên cạnh những kết quả trên, tình hình hoạt động của các NHTM Việt Nam những năm qua cho thấy còn những tồn tại:

Tình hình huy động vốn của toàn hệ thống ngân hàng liên tục tăng qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng không ổn định, có xu hướng giảm. Những năm đầu khủng hoảng tài chính toàn cầu tốc độ tăng trưởng huy động vốn duy trì trên 20%, nhưng những năm tiếp theo tỷ lệ tăng huy động chỉ đạt trên 12%. Một số điểm đáng chú ý trong hoạt động huy động vốn từ 2008 - 2012: lãi suất huy động vốn có diễn biến phức tạp; lãi suất thực tế vượt lãi suất quy định; dư nợ tín dụng của hệ thống NHTM tăng lên khá mạnh. Trong giai đoạn 2008 - 2012, tốc độ tăng dư nợ bình quân khá cao trên 21,2%. Hoạt động tín dụng của các NHTM những năm qua còn chứa ẩn rất nhiều hạn chế: tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động vượt xa mức cho phép của NHNN làm cho tính thanh khoản của hệ thống luôn căng thẳng; tín dụng tăng trưởng nóng dẫn đến chất lượng tín dụng giảm thấp; cơ cấu kỳ hạn cho vay và kỳ hạn huy động không cân đối.

Hoạt động tín dụng của các NHTM phát triển theo hướng tăng quy mô và tốc độ tăng trưởng, nhưng lại không tập trung nâng cao chất lượng tín dụng

trong điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định, khiến chất lượng của các khoản tín dụng rất thấp, đây đã trở thành những khoản nợ xấu. Nợ xấu của hệ thống NHTM giai đoạn 2008 - 2012 có xu hướng gia tăng: năm 2008 là 2,17%; năm 2009 là 2,05%; năm 2010 là 2,165%; năm 2011 là 3,3% và năm 2012 tăng vọt lên 8,6%. Đây là con số NHNN công bố, nhưng theo đánh giá của hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings năm 2011 không thể thấp hơn hai con số vào khoảng 13%. Nợ xấu ngân hàng đứng ở mức cao và có xu hướng ngày càng gia tăng. Việc có quá nhiều ngân hàng không phải là điều xấu, vấn đề chính là các ngân hàng hoạt động không hiệu quả trong đó vấn đề nợ xấu trong các ngân hàng – những tài sản không sinh lời của các doanh nghiệp là thách thức lớn nhất đối với hệ thống các NHTM. Chính tình hình nợ xấu của các ngân hàng ngày càng trầm trọng khiến cho yêu cầu tái cấu trúc ngân hàng không thể chậm chễ hơn nữa. Mặc dầu chúng ta đã thành lập VAMC để xử lý nợ xấu, nhưng cho tới hiện nay hiện nay nợ xấu vẫn là 'ung nhọt' của các NHTM.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio - “CAR”) có thể giảm sụt nếu các NHTM trích lập quĩ dự phòng đúng, đủ theo đúng quy định của NHNN. Thời gian qua, theo báo cáo của các NHTM đa số các NHTM đã đạt mức tỷ lệ đảm bảo vốn tự có tối thiểu trên 8% theo khuyến nghị của Hiệp ước Basel II. Tuy nhiên, tỷ lệ CAR còn có khác nhau giữa các ngân hàng và nhóm ngân hàng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ nợ xấu tăng cao, trong khi các nguồn thu khác giảm xuống, điều tất nhiên tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếu như các NHTM tuân thủ đúng theo quy định của NHNN, hạch toán đúng, đủ dự phòng cho các khoản nợ.

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại việt nam thực trạng và giải pháp (Trang 63 - 73)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)