Một số nhóm giải pháp để tái cơ cấu hệ thống NHTM

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại việt nam thực trạng và giải pháp (Trang 79 - 91)

Trước một số thực trạng như tiểu luận đã phân tích ở trên, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng do tăng trưởng tín dụng nóng, thanh khoản kém, yếu kém về quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro. Do vậy, vấn đề ở đây là cần nhanh chóng đưa ra được chương trình tái cơ cấu giúp các ngân hàng không bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và khôi phục lại khả năng cho vay của hệ thống ngân hàng, giúp thúc đẩy nền kinh tế hồi phục. Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI đã ra chỉ thị “cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính theo hướng sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính nhỏ...”.

Có ý kiến cho rằng số lượng ngân hàng tại Việt Nam là quá nhiều so với quy mô của nền kinh tế và một phần của tái cấu trúc là hợp nhất các ngân hàng nhỏ. Việc hợp nhất các ngân hàng nhỏ là cần thiết để tăng năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Số lượng ngân hàng liên quan đến chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng và phụ thuộc vào chiến lược của mỗi ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng, một số ngân hàng quy mô nhỏ tại Việt Nam như Liên Việt Bank vẫn hoạt động hiệu quả. Trên thế giới, một số quốc gia và vùng lãnh thổ vẫn duy trì hệ thống ngân hàng lớn như Đài Loan chỉ có 20 triệu dân nhưng có gần 100 ngân hàng, Indonesia có 121 ngân hàng. Đặc biệt, Mỹ có tới 6.413 ngân hàng, phần lớn là ngân hàng địa phương phục vụ một cộng đồng, một bang nhất định; còn lại là các ngân hàng lớn phân định rõ hoạt động cốt lõi là ngân hàng đầu tư hoặc ngân hàng bán lẻ.

Và như thế, không phân biệt ngân hàng lớn hay nhỏ, đều phải đánh giá kỹ lưỡng các vấn đề này ở từng ngân hàng. Kinh nghiệm giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới cho thấy, việc xác định kịp thời và nhanh

chóng giải quyết nguồn vốn tự có để bù đắp các khoản nợ xấu, mạnh tay cơ cấu lại, khôi phục lại khả năng cho vay của lĩnh vực ngân hàng là yếu tố thúc đẩy kinh tế nhanh hồi phục.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và nợ công đang diễn ra, nhiều nước đã thực hiện các biện pháp mạnh mẽ và nhanh chóng giải cứu hệ thống ngân hàng để làm bàn đạp cho việc khôi phục kinh tế. Chính phủ Anh bỏ ra 37 ty bảng Anh(khoảng 63 tỷ đô-la) vốn để quốc hữu hóa một phần ngân hàng Royal Bank of Scotland (RBS) và Lloyds. Mỹ chi 85 tỷ đô-la để cứu AIG và không ngại để cho Lehman Brother phá sản. Gần đây nhất, Chính phủ Pháp và Bỉ đã đưa ra kế hoạch 90 tỷ EUR( khoảng 123 tỷ đô-la) để giải cứu Dexia Bank. Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay để tái cơ cấu thành công phải xử lý được 3 vấn đề chính, đó là: Tình hình nợ xấu tăng nhanh, tỉ lệ vốn chủ sở hữu thấp và thiếu thanh khoản trầm trọng trong hệ thống ngân hàng.

Do vậy, tôi xin đề xuất các giải pháp chính để thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam như sau:

Nhóm giải pháp 1: Tái cấu trúc về vốn tự có của các ngân hàng

Mục tiêu chính của nhóm biện pháp này là phải xác định được mức vốn chủ sở hữu thực tế (sau khi đã lập dự phòng đầy đủ cho các khoản cho vay không hiệu quả và giảm giá các tài sản) của hệ thống ngân hàng. Từ đó Chính phủ mới đưa ra được các biện pháp cụ thể, ví dụ như yêu cầu các ngân hàng tăng vốn, hoặc yêu cầu các ngân hàng có mức an toàn vốn thực tế dưới mức tối thiểu phải sáp nhập hoặc giải thể. Nếu các ngân hàng không có đủ số vốn tối thiểu tự có sẽ khó tồn tại và khó huy động được vốn trên thị trường do được coi là có mức độ rủi ro mất khả năng thanh toán cao.

Giải pháp1.1- Mua lại ngân hàng hay quốc hữu hóa một phần để tăng vốn

Chính phủ có thể đầu tư vào vốn cổ phần của các ngân hàng. Ở các quốc gia như Mỹ, Châu Âu và một số nước phát triển ở khu vực Châu Á, chính phủ ưu tiên thực hiện biện pháp quốc hữu hóa các ngân hàng bằng cách đầu tư vào cổ phần của các ngân hàng này sau đó bán lại cho tư nhân sau khi ngân hàng đó dần đi vào ổn định. Với vai trò là cổ đông chính sở hữu phần lớn vốn cổ phần, Chính phủ sẽ yêu cầu các ngân hàng bị quốc hữu hóa thực hiện các chương trình tái cấu trúc tài sản và nguồn vốn. Một ví dụ điển hình là việc Chính phủ Anh đã mua cổ phiếu của Royal Bank of Scotland và ngân hàng Lloyds năm 2008, khiến cho tỷ lệ sở hữu cổ phần của Chính phủ tương ứng trong hai ngân hàng này là 67% và 43%. Tại Châu Á, các quốc gia như Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan cũng đã thực hiện biện pháp này, trong đó tiêu biểu là sự kiện Thái Lan đã mua cổ phần của 7 ngân hàng thương mại và 12 công ty tài chính vào năm 1998. Khi đó, Chính phủ Thái Lan đã buộc các ngân hàng thương mại phải hạch toán các khoản dự phòng nợ xấu vào khoản mục chi phí, từ đó làm giảm vốn chủ sở hữu. Điều này là có lợi cho Chính phủ vì khi đó chỉ cần một lượng vốn nhỏ bổ sung vào vốn điều lệ cũng có thể sở hữu phần lớn cổ phần trong các ngân hàng này, từ đó dễ dàng can thiệp để điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng.

Giải pháp 1.2- Chuyển các khoản vay của Ngân hàng Nhà nước sang cổ phần

Theo số liệu báo cáo, tổng các khoản Ngân hàng Nhà nước cho các ngân hàng thương mại vay vào thời điểm 31.12.2010 là 210.000 tỉ đồng. Nếu không tính các khoản cho các ngân hàng quốc doanh và bán quốc doanh vay, tổng dư nợ cho vay là 87.000 tỉ đồng.

Theo kinh nghiệm của Thái Lan năm 1998, Chính phủ Thái bắt tất cả các ngân hàng phải hạch toán đầy đủ dự phòng nợ xấu vào chi phí (xóa nợ hay write off), qua đó giảm vốn chủ sở hữu. Khi đó, các ngân hàng sẽ có vốn chủ sở hữu rất thấp so với trước khi xóa các khoản nợ xấu. Điểm hay của giải pháp này là sau khi write off, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng sẽ rất thấp, rất có lợi cho Chính phủ. Ví dụ, nếu trước khi hạch toán vốn của ngân hàng cần tái cấu trúc là 1.000 tỉ đồng, Chính phủ góp thêm vốn 200 tỉ đồng thì chỉ chiếm chưa tới 20%. Tuy nhiên, nếu nợ xấu của ngân hàng này cần là 800 tỉ đồng thì vốn sau khi điều chỉnh chỉ còn 200 tỉ. Khi đó Chính phủ Thái bơm thêm 200 tỉ đồng vào vốn điều lệ là đã được sở hữu 50% ngân hàng này.

Đây được xem là biện pháp rất cứng rắn của Chính phủ Thái Lan trước sức ép của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), những đơn vị tài trợ chính cho cuộc tái cấu trúc này. Nhiều ngân hàng Thái đã phải tìm mọi biện pháp tự đi tìm đối tác để tăng vốn, thay vì sử dụng vốn của Ngân hàng Trung ương Thái.

Giải pháp 1.3- Vốn đối ứng

Chính phủ tiến hành rà soát, xác định nhóm ngân hàng “xấu” cần tái cấu trúc và khuyến khích nhà đầu tư từ bên ngoài tham gia bằng biện pháp kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tài trợ tăng vốn cho các ngân hàng gặp khó khăn bằng cách đưa ra các điều kiện có lợi. Hình thức này gọi là vốn đối ứng hay thực chất là đồng tài trợ. Theo đó, khi nhà đầu tư bỏ vốn tài trợ cho một ngân hàng gặp khó khăn thì Chính phủ cũng cam kết góp vốn vào ngân hàng đó theo một tỷ lệ nhất định dưới vai trò nhà đầu tư thứ hai đồng tài trợ. Ví dụ, nếu nhà đầu tư bỏ 1.000 tỉ đồng vào ngân hàng gặp khó khăn, Chính phủ cũng cam kết góp vốn thêm 1.000 tỉ để vực dậy ngân hàng này. Vốn này thường được trích từ các quỹ đặc biệt do Chính phủ lập ra để tái

cấu trúc ngành. Điều này không những tạo niềm tin cho nhà đầu tư về khả năng vực dậy của ngân hàng mà còn làm giảm lượng vốn Chính phủ cần bỏ ra để cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng đó.

Giải pháp 1.4- Mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài trong thời gian nhất định

Để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ một số nước cũng tiến hành nâng hạn mức sở hữu nước ngoài lên một mức cao và trong một khoảng thời gian tương đối dài. Tiếp đó, nhằm tránh tình trạng rủi ro gia tăng khi bị các cổ đông nước ngoài chi phối, sau khoảng thời gian đã cam kết ban đầu, các nhà đầu tư nước ngoài phải bán lại cổ phần của mình cho các nhà đầu tư trong nước để giảm tỷ lệ sở hữu nước ngoài xuống một mức hợp lý theo luật định. Mở rộng hạn mức sở hữu nước ngoài là một trong những giải pháp được một số nước như Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil áp dụng thành công. Năm 1998, Chính phủ Brazil đã nâng hạn mức sở hữu nước ngoài từ 7% (được áp dụng từ năm 1994) lên tới 14% để tăng nguồn tài trợ vốn tự có cho các ngân hàng thương mại trong nước. Đây cũng là biện pháp mà Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng thành công. Một số ngân hàng được tăng hạn mức cho nhà đầu tư nước ngoài lên rất cao, ví dụ 75% (mức hiện tại của Việt Nam là 30%), để nhà đầu tư mới có thể vào kiểm soát và vực dậy ngân hàng trong khoảng thời gian 10 năm. Cổ đông nước ngoài phải cam kết sau thời hạn 10 năm sẽ giảm tỉ lệ sở hữu của họ xuống theo luật định, thông qua việc bán lại cho cổ đông trong nước. Theo tôi, đây là biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước có thể tính đến nhằm thu hút nhà đầu tư nước ngoài trong khoảng thời gian khó khăn nhất định của một nhóm ngân hàng.

Một số ý kiến cho rằng nên cho nước ngoài chi phối các ngân hàng tại Việt Nam để tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam. Điều

này sẽ làm gia tăng rủi ro bị chi phối bởi nước ngoài trong ngành huyết mạch này của nền kinh tế, dẫn đến hậu quả rất to lớn.

Nhóm giải pháp 2- Giải quyết vấn đề thanh khoản

Ở nhóm biện pháp này, Ngân hàng Nhà nước có thể đưa ra cơ chế thanh khoản đặc biệt và dùng các giao dịch phi tiền mặt như bảo lãnh các khoản vay trên thị trường liên ngân hàng để tạo sự tin tưởng khi các ngân hàng cho vay lẫn nhau. Nhưng không phải bảo lãnh suông hay ngầm mà Ngân hàng Nhà nước sẽ công khai tính phí bảo lãnh rất cao nhằm cứu các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản. Biện pháp này đã từng được áp dụng ở Việt Nam qua trường hợp của Ngân hàng Nam Đô, sau đó được Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) mua lại vào năm 1998.

Ngoài ra, để giải quyết thanh khoản, Ngân hàng Nhà nước có thể cho vay dưới hình thức trái phiếu có bảo đảm. Ví dụ, một ngân hàng thương mại muốn vay Ngân hàng Nhà nước 1.000 tỉ đồng thì phải tìm được các khoản vay tốt (có giá trị cao hơn 1.000 tỉ đồng) và gói lại thành các trái phiếu. Ngân hàng Nhà nước sẽ mua trái phiếu có bảo đảm bằng dòng tiền từ các khoản vay tốt này với giá chiết khấu, ví dụ 80%. Lúc đó, khoản vay được đảm bảo bởi dòng tiền của các khoản vay tốt này. Với hình thức này, ngân hàng sẽ có vốn hoạt động và Ngân hàng Nhà nước có được sự an toàn trong việc cho các ngân hàng thương mại vay.

Nhóm giải pháp 3- Cải thiện lòng tin vào ngân hàng

Đây là giải pháp quan trọng nhất và khó nhất. Để có được lòng tin tốt hơn của công chúng vào hệ thống ngân hàng là minh bạch hóa thông tin và thể hiện một kế hoạch tái cấu trúc mạnh mẽ, quyết liệt theo tinh thần Nghị quyết của Ban chấp hành TW Đảng khóa XI. Câu chuyện minh bạch này rất giống với thông điệp của Ủy ban An toàn Giao thông Úc: “Hãy để các đối

tượng tham gia giao thông biết được những rủi ro có thể diễn ra trên đường để họ không bị bất ngờ. Còn tham gia giao thông là việc họ sẽ phải làm hàng ngày”.

Ngoài ra, Chính phủ có thể quyết định nâng mức bảo hiểm tiền gửi để gia tăng lòng tin của công chúng. Ở Việt Nam, mức bảo hiểm tiền gửi tối đa hiện tại là 50 triệu đồng và đã có một số ý kiến nâng mức bảo hiểm này. Ví dụ, Chính phủ Anh đã tăng mức bảo hiểm tiền gửi tối đa từ 35.000 bảng (55.000 USD) lên 85.000 bảng (135.000 USD) sau khủng hoảng tài chính năm 2008. Tại Philippines, mức bảo hiểm tiền gửi là 500.000 peso (12.000 USD).

Nhóm giải pháp 4- Các giải pháp chính sách

Nhóm giải pháp chính sách bao gồm cải thiện môi trường kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, quản lý rủi ro… là các giải pháp mang tính lâu dài và đòi hỏi sự đồng bộ. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng muốn thành công phải tái cấu trúc cả hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhà nước; các vấn đề mất cân đối kỳ hạn cho vay và huy động… Để thực hiện điều này, cần phải:

- Xác định một cách rõ ràng và chính xác mức độ mất vốn của ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Ngân hàng Nhà nước cần rà soát kỹ lưỡng tỉ lệ nợ xấu và mức dự phòng rủi ro tín dụng trước khi đưa ra bất kỳ chương trình tái cấu trúc nào. Để đẩy nhanh công tác tái cấu trúc ngân hàng, theo chúng tôi, Ngân hàng Nhà nước trước hết phải có biện pháp mạnh yêu cầu ngân hàng thương mại phân loại nợ xấu nhanh và chính xác. Càng trì hoãn công việc này sẽ càng làm trì hoãn chương trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng.

Ví dụ ở Thái Lan, để giải quyết cuộc khủng hoảng năm 1997, Ngân hàng TW Thái(BOT) đã xiết chặt quy định về phân loại nợ và chuẩn mực kế toán về lập dự phòng rủi ro tín dụng. BOT đã yêu cầu các ngân hàng thương mại Thái phân loại tất cả các khoản vay quá hạn lãi hoặc gốc 3 tháng thành nợ dưới chuẩn không hiệu quả, kết quả là tỷ lệ NPL tăng lên đến 45% và hàng loạt ngân hàng thiếu vốn hoặc rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán(tổng công nợ lớn hơn tổng tài sản) cần phải tái cấu trúc vốn.

- Giải quyết nợ xấu và thanh lý các tài sản không nằm trong hoạt động cốt lõi. Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu mô hình cho phép các ngân hàng có nợ xấu cao tách biệt hoạt động thành 2 pháp nhân khác nhau: “ngân hàng tốt” và “ngân hàng xấu”. Ngân hàng xấu sẽ tập trung giải quyết triệt để các khoản nợ này, còn ban lãnh đạo ngân hàng có thể tập trung phát triển hoạt động cho vay mới có hiệu quả ở “ngân hàng tốt”. Các khoản nợ NPL sẽ được chuyển sang “ngân hàng xấu” theo mức giá sau khi đã được lập dự phòng đầy đủ. Việc tách biệt giữa “ngân hàng tốt” và “ngân hàng xấu” đã được nhiều nước áp dụng thành công, như Ngân hàng Northern Rock tại Anh và nhiều ngân hàng khác ở Mỹ và châu Âu.

Trước đây, Ngân hàng Trung ương Thái Lan cũng đã khuyến khích các ngân hàng thương mại thành lập các công ty quản lý nợ và tài sản xấu (gọi tắt là AMC) để thúc đẩy Chương trình Tái cơ cấu Ngân hàng cuối thập niên 1990. Theo chúng tôi hiểu, mô hình AMC trước đây cũng đã được áp dụng thử ở Ngân hàng Công Thương thời khủng hoảng Epco - Minh Phụng năm 2001- 2002 nhưng không được áp dụng triệt để.

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại việt nam thực trạng và giải pháp (Trang 79 - 91)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)