Avon với quyết định thu hẹp sản xuất tại châ uÁ

Một phần của tài liệu Luận văn Quản trị tài chính trong các công ty đa quốc gia (Trang 70 - 75)

II. Kinh nghiệm quản trị tài chính của một số công ty đa quốc gia điển

4. Kinh nghiệm của Kodak, Rolls-Royce và Avon trong việc quản trị rủ

4.3 Avon với quyết định thu hẹp sản xuất tại châ uÁ

Được thành lập vào năm 1886 tại Hoa Kỳ, Avon là tập đoàn mỹ phẩm hàng đầu trên thế giới với doanh thu hàng năm đạt trên 8 tỷ đôla Mỹ. Avon là tập đoàn kinh doanh theo hình thức bán hàng trực tiếp. Avon giới thiệu các sản phẩm làm đẹp cho hàng triệu phụ nữ trên hơn 100 quốc gia thông qua hơn 5 triệu đại diện bán hàng độc lập của mình trên toàn thế giới. Chủng loại sản phẩm của Avon rất đa dạng và phong phú như các sản phẩm chăm sóc da, trang điểm, nước hoa, chăm sóc cá nhân, trang sức, phụ kiện thời trang v.v. .. được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng và tin dùng. Với xuất phát điểm kinh doanh từ thành phố New York Hoa Kỳ, nay Avon đã vươn xa phạm vi hoạt động lên đến hơn 100 quốc gia trên thế giới, cung cấp các sản phẩm làm đẹp cho hơn 300 triệu phụ nữ trên khắp toàn cầu.

66

4.3.1 Giảm thiểu rủi ro tiền tệ và điều chỉnh về chiến lược kinh doanh để đối phó với khủng hoảng tiền tệ phó với khủng hoảng tiền tệ

Cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á năm 1997 là không thể dự đoán được nhưng Avon Products đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với tình hình. Một cuộc nghiên cứu về những điều Avon đã làm trước khủng hoảng và việc công ty đã đối phó như thế nào sau đó là minh chứng cho những nguyên tắc về quản trị rủi ro kinh doanh. Chính điều này cũng khẳng định vai trò của các giám đốc tài chính như là một thành viên quan trọng của đội ngũ quản trị chiến lược của công ty.

Avon đã có lịch sử lâu dài hoạt động trên thị trường quốc tế. Theo cách thông thường Avon cố gắng bảo hiểm rủi ro tiền tệ bằng việc khép kín từ công đoạn mua nguyên liệu, sản xuất và phân phối sản phẩm đáp ứng nhu cầu

tại mỗi thị trường của công ty. Ví dụ, Avon Asia – Pacific có các nhà máy sản

xuất đồ mỹ phẩm tại các thị trường lớn nhất của mình tại Trung Quốc, Indonexia, Philippin và Nhật Bản nhưng không tiến hành sản xuất tại 6 quốc gia còn lại của châu Á. Công ty sau đó còn thực hiện việc tự bảo hiểm rủi ro tiền tệ bằng cách tài trợ vốn cho các cơ sở sản xuất tại một quốc gia thông qua nguồn vốn vay bằng nội tệ của quốc gia đó. Đồng thời doanh thu tại 10 quốc gia châu Á mà Avon có hoạt động kinh doanh vào khoảng 751 triệu Đô la so với 4,8 tỷ Đô la tổng doanh thu trong năm 1996.

Khi khủng hoảng tiền tệ bắt đầu ở Thái Lan vào tháng 7 năm 1997, các

nhà lãnh đạo của Avon đã không lường trước được vấn đề của Thái Lan sẽ còn trầm trọng hơn nhưng để phòng ngừa, công ty đã quyết định giảm thiểu rủi ro tiền tệ bằng việc tiến hành chuyển thu nhập về công ty mẹ từ các chi nhánh tại châu Á theo tuần thay vì theo tháng. Tuy nhiên, vào cuối tháng 8, các thị trường tài chính lại trấn động sau bài phát biểu của Thủ tướng Malaysia, Mahathir Mohamad, ông cho rằng đằng sau cuộc khủng hoảng

67

làm trật bánh sự phát triển của khu vực. Người đứng đầu Avon tại khu vực châu Á Thái Bình Dương đã xem xét khả năng các quốc gia khác của châu Á cũng sẽ hạ giá đồng tiền của họ để duy trì khả năng cạnh tranh xuất khẩu. Để đối phó lại Avon quyết định bán kỳ hạn một khoản bao gồm năm loại tiền của năm quốc gia châu Á có giá trị khoảng 50 triệu Đô la để đổi lấy Đô la

trong 15 tháng.

Sau đó Avon chuyển sang thực hiện những điều chỉnh về chiến lược kinh doanh. Dự đoán được những khó khăn trước mắt, công ty Avon tại châu Á Thái Bình Dương quyết định thay đổi ngân sách marketing bằng việc thuê thêm nhân viên bán hàng tại châu Á để thu hút khách hàng chứ không tăng thêm những khoản thưởng cho các nhân viên bán hàng hiện có nhằm khuyến khích họ thuyết phục những khách hàng quen thuộc chi thêm tiền. Công ty mẹ cũng thúc giục các giám đốc quản lý tại mỗi quốc gia tăng cường việc mua nguyên liệu trong nước tại bất cứ nơi nào có thể và không để các nhà cung cấp trong nước tham dự vào nhằm tránh việc phải trả cho những chi phí tăng thêm của họ. Đồng thời Avon bắt đầu kế hoạch cạnh tranh mạnh mẽ hơn nữa với các đối thủ cạnh tranh đang ở thế bất lợi khi họ phải nhập khẩu sản phẩm và nguyên liệu thô. Cuối cùng, Avon nhận thấy rằng nó có khả năng tăng lợi nhuận hiện có bằng cách sử dụng các nhà máy của mình tại châu Á để sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm không phải là hàng mỹ phẩm vào thị trường Mỹ. Công ty Avon ở châu Á Thái Bình Dương cũng nhận được sự giúp đỡ từ

các giám đốc khu vực châu Mỹ Latinh, họ đã bay sang châu Á để chia sẻ

những kinh nghiệm về việc làm thế nào để đối phó được với cuộc khủng hoảng tiền tệ tương tự đã xảy ra ở các quốc gia này.

4.3.2 Những bài học về quản trị rủi ro tài chính

Bài học đầu tiên để quan trị rủi ro tài chính có hiệu quả là ta phải quan

tâm đến nó cũng như những tác động của nó có thể gây ra cho công ty. Trường hợp của Kodak, trước kia công ty này chỉ tập trung vào những nỗ lực

68

quản trị rủi ro hối đoái bằng các giao dịch ngắn hạn có bảo hiểm. Nhưng sau

đó nó đã nhận thực được những ảnh hưởng của rủi ro tiền tệ trên phương diện

kinh tế đối với công ty. Chiến lược mới của nó đã tính toán đến rủi ro hối đoái trong mỗi dự án đầu tư.

Nghiên cứu thất bại của Rolls-Royce, chúng ta có thể nhận được bài

học về sự thận trọng khi ký các hợp đồng cung cấp mà đồng tiền thanh toán không phải là nội tệ. Tỷ giá có thể thay đổi không theo như dự đoán của nhà quản trị và hậu quả là những thiệt hại rất lớn về mặt lợi nhuận của công ty.

Rolls-Royce định giá sản phẩm của nó bằng đồng Đô la Mỹ trong khi chi trả các chi phí hoạt động của nó (quản lý, nguyên vật liệu, trả nợ) bằng đồng Bảng Anh. Nhưng vấn đề ở chỗ các hợp đồng bán sản phẩm của công ty này lại xác định một tỷ giá hối đoái cố định. Đây chính là sai lầm rất lớn của nó.

Theo những dự đoán của các nhà quản trị tài chính tại Rolls-Royce, đồng

Bảng Anh sẽ mất giá trong thời gian đó, do đó họ không đưa điều khoản rủi ro hối đoái vào hợp đồng. Nhưng thực tế lại không như vậy, đồng Đô la giảm

giá gây ra khoản thua lỗ nặng nề cho công ty. Trong thế giới kinh doanh toàn

cầu, những rủi ro, biến động là liên tục và không lường trước được. Vì thế các nhà quản trị nên thận trọng thay vì quá tin tưởng vào phán đoán của mình.

Từ việc nghiên cứu cách mà tập đoàn mỹ phẩm Avon đã đối phó với cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á năm 1997, ta lại tìm được bài học phải luôn luôn sẵn sàng đối phó với rủi ro vì dù có tầm nhìn chiến lược đến đâu, các công ty không thể dự đoán những rủi ro có thể xảy ra. Và đối phó với rủi ro không phải là trách nhiệm của riêng giám đốc tài chính. Rủi ro tiền tệ có ảnh hưởng tới mọi mặt hoạt động của một công ty. Khi đối phó với nó, các giám đốc kinh doanh cần có các đề xuất về sản xuất và marketing để đảm bảo khả năng sinh lợi trong dài hạn. Họ phải có được những lựa chọn chiến lược dự phòng mang tính chủ động chứ không phải thụ động để có được lợi thế cạnh tranh quốc tế.

69

Điều mấu chốt để quản trị hiệu quả rủi ro là gắn việc phân tích những biến động tiền tệ với quá trình quản trị chung. Một biện pháp mà rất nhiều các

công ty đa quốc gia áp dụng nhằm phát huy sự phối kết hợp giữa các giám

đốc chịu trách nhiệm từng mảng khác nhau của việc quản trị rủi ro hối đoái là thành lập một ủy ban thực hiện việc quản trị rủi ro ngoại hối. Bên cạnh các

giám đốc tài chính, cac ủy ban nên và thường bao gồm nhân viên cấp cao của

công ty như phó chu tịch – phụ trách mảng quốc tế, giám đốc marketing và

sản xuất, giám đốc kế hoạch và tổng giám đốc điều hành. Việc sắp xếp này là rất hợp lý bởi vì các giám đốc sẽ cùng tham gia quản trị rủi ro hối đoái, do vậy họ có thể có những cân nhắc trên phương diện hối đoái trước khi đưa ra những quyết định của mình.

Trong chương trình kiểm soát rủi ro hối đoái kiểu này, vai trò của các giám đốc tài chính gấp thêm 4 lần: (1) cung cấp những dự đoán về lạm phát và tỷ giá hối đoái cho hoạt động quản trị kinh doanh trong nước, (2) nhận định và làm rõ nguy cơ rủi ro cạnh tranh, (3) cơ cấu những tiêu chí đánh giá để các giám đốc kinh doanh không được quá ngợi khen hay bị khiển trách do

những tác động không được dự đoán của biến động tiền tệ và (4) tính toán và

bảo hiểm những rủi ro kinh doanh còn tồn tại sau khi những chiến lược sản xuất và marketing đã được triển khai.

70

CHƯƠNG III: KHẢ NĂNG ÁP DỤNG KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY ĐA

QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM

Một phần của tài liệu Luận văn Quản trị tài chính trong các công ty đa quốc gia (Trang 70 - 75)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(99 trang)